Bạn đang sử dụng giao diện hội viên.
Đăng xuất giao diện hội viên →
Blog

Nếp Mới #15: Tại sao cần “Địa phương hoá” trong một xã hội toàn cầu hoá?

Thông tin cho hội viên

Thông tin dưới đây chỉ dành riêng cho Hội viên Vcil
Để đảm bảo quyền lợi của bạn cũng như cộng đồng Hội viên Vcil, mong bạn đừng chia sẻ thông tin này nhé!


Chúng tôi rất vui mừng khi có được sự hiện diện của cô Helena trong buổi Nếp Mới này. Đặc biệt hơn, đây là sự kiện đầu tiên Vcil Community mở ra công chúng. Chúng tôi khá bất ngờ khi chủ đề nhận được rất nhiều sự quan tâm đến từ đại đa số mọi người. Người đăng ký tham gia có xuất thân, chuyên môn rất khác nhau, nhưng đa phần mọi người đều quan tâm đến những mô hình và cách tổ chức kinh tế khác - thay thế cho hệ thống kinh tế tư bản - liệu có khả thi; và liệu địa phương hoá có phải là một trong những giải pháp khả dĩ.

Nếp Mới là hoạt động mở màn cho Tuần lễ Địa phương hoá “Kho báu địa phương mình”. Đây là cách Vcil Community và các cộng đồng ở Việt Nam hưởng ứng Ngày Địa phương hoá Thế giới. Đây là một sự kiện thường niên, mỗi năm có hàng chục nghìn người từ hơn 50 quốc gia khác nhau cùng nhau tham dự - đây là dịp các cá nhân, đội nhóm, cộng đồng cùng nhau hành động hướng về địa phương qua nhiều cách khác nhau: xem phim, thảo luận, tổ chức bữa ăn cộng đồng, trồng rừng, làm vườn,... Đây là những hành động tuy nhỏ, nhưng tạo ra những mô men hành động để kiến tạo những nền kinh tế địa phương vững mạnh.

Cảm nhận về localization month

Hoà chung không khí sôi động khắp thế giới đó, khi được hỏi về cảm nhận về tháng địa phương hoá, cô Helena không khỏi hào hứng chia sẻ:

“Tôi rất vui khi chứng kiến khắp nơi trên thế giới, mọi người đang nhận thấy nhu cầu thực sự để kết nối với những người khác, với cây cối, động vật, tự nhiên, và thế giới sống động đang hiện diện quanh ta. Đây chính là những điều tạo nên chúng ta, nhờ đó, chúng ta không ngừng tiến hoá. Nên khi chúng ta tách biệt bản thân hoàn toàn khỏi tự nhiên, khỏi cộng đồng, để đến sống trong những thành phố đầy sự cạnh tranh, vội vã, chúng ta sẽ đau khổ.

Đây là xu hướng chung ở mọi nơi. Con người dần nhận thức được rằng chúng ta cần quay trở về những thứ mang tính người hơn: tốc độ con người - chậm rãi (human pace) và mang quy mô con người (human scale). Họ đều muốn thuộc về một đội nhóm hay cộng đồng nào đó. Và đó chính xác là ý tưởng cốt lõi của phong trào địa phương hóa: giúp mọi người hiểu về những phương thức và lí do tại những những mối quan hệ và kết nối bị cắt đứt; do đó mọi người cần hợp tác cùng nhau để tái lập lại những gì tạo chúng ta với tư cách là một con người, và làm thế nào để sống hạnh phúc và khỏe mạnh.”

Văn hóa, con người và "consumer culture"

Câu hỏi khác được đặt ra “Trong một xã hội toàn cầu hoá và công nghệ hiện diện khắp mọi nơi, làm người có nghĩa là gì?”

Để trả lời câu hỏi này, cô Helena chia sẻ về văn hoá và mối liên hệ giữa con người và tự nhiên. Cô chỉ ra rằng, ngay ở Việt Nam, mỗi vùng đất, mỗi vùng miền đều có những sự khác biệt rất rõ ràng về mặt văn hoá. Và đây là một điều rất hiển nhiên ở trên thế giới. Sự khác biệt này hiện hữu vì con người sinh sống và thích nghi tuỳ theo vùng đất họ sinh sống - nơi con người có mối liên hệ mật thiết với con sông, cây cối, thực phẩm và khí hậu ở đó. Đó là đặc tính rất con người, và dù ở đâu đi chăng nữa, con người sẽ thích ứng với nơi họ sống, thích nghi với tự nhiên. Từ đó, văn hoá địa phương được hình thành. Đó là lí do tại sao có văn hoá miền biển, miền núi,...

Ở phương tây, người ta đang gọi văn hoá chung mà đại đa số đều thực hành là văn hoá tiêu dùng. Cô Helena cho rằng chúng ta không nên gọi đây là văn hoá, vì nó xuất hiện không phải vì một nhóm người nào đó, sống gắn bó với một nơi cụ thể, rồi phát triển những thực hành hay lối sống khác nhau. Sự tiêu dùng xuất hiện vì những nhà thương mại toàn cầu và các tập đoàn lớn bắt đầu thao túng chính trị, kinh tế và văn hoá địa phương ở khắp nơi trên thế giới; sau cùng là để áp đặt văn hoá tiêu dùng mang tính độc canh này lên mọi nơi toàn cầu hoá chạm đến.

Vì vậy, tiêu dùng không giúp chúng ta trở nên người hơn. Thậm chí, nó đi ngược lại một điều quan trọng mà chúng ta phải công nhận: mỗi đứa trẻ được sinh ra đều mong muốn cảm giác được thuộc về. Chúng cũng cần được yêu thương, ôm ấp, vỗ về. Chúng cũng cần cảm thấy rằng bản thân mình đang lớn, và vì thế chúng xứng đáng được tôn trọng và được mọi người yêu thương.

Điều mang tính thảm hoạ ở đây là “văn hoá tiêu dùng” đã làm nhiều người hiểu một cách “lệch lạc” rằng nhu cầu yêu thương và được thuộc về có nghĩa là phải tiêu dùng. Từ lối sống, lời ăn tiếng nói, cách cư xử của người lớn, những đứa bé khắp nơi thế giới hiểu được rằng: nếu chúng muốn có bạn bè, và để bạn bè ngưỡng mộ chúng, chúng cần có iPad, phải ăn mặc theo một cách thức nào đó, ngoại hình phải theo một kiểu nhất định, giày dép phải theo xu hướng, và phải uống đồ uống đóng chai đang được quảng cáo. Thông điệp này phổ biến đến mức nhu cầu phổ quát căn bản của con người được hiểu là nhu cầu tiêu dùng phổ quát!

Cô Helena đưa ra một lời cảnh tỉnh, rằng chúng ta cần phải tỉnh dậy trước giấc mộng tiêu thụ được ghi đè lên tâm trí con người. Mọi người cần hợp tác cùng nhau, để kéo nhau khỏi sự tiêu dùng vô nghĩa kia. Đây không chỉ bởi vì hạnh phúc của cá nhân, mà còn để tránh khỏi những cuộc khủng hoảng toàn cầu đang diễn ra: căn bệnh trầm cảm, nghiện ngập, thậm chí hiện trạng tự sát ở người trẻ - đang được thể hiện rất rõ ràng qua những số liệu thực tế trên thế giới. Chúng ta đang ở tình trạng khẩn cấp lắm rồi.

Hành trình đến với localization — Ladakh

Để hiểu rõ hơn bối cảnh và sự cần thiết của toàn cầu hoá, Vcil Community đã hỏi cô Helena: “Khoảnh khắc nào trong cuộc đời cô cảm thấy rằng mình cần phải tập trung vào địa phương hoá? Điều gì là động lực thúc đẩy cô đến tận bây giờ?

Những gì mà cô Helena nói và viết không phải đến từ bản thân cô, mà đến từ những trải nghiệm sống trong một nền văn hoá, mà đến những thập niên 1970 vẫn chưa bị xáo động và ảnh hưởng bởi phương tây - cả truyền giáo hay bị xâm chiếm bởi các đế chế, họ vẫn giữ được văn hoá, giá trị và lối sống riêng biệt của mình.

Cô cho rằng có hai lí do cho việc này. Đầu tiên, họ sống ở độ cao hơn 3500m, được bao quanh bởi dãy Hi Mã Lạp Sơn hùng vĩ, tuyết phủ trắng họ đâu đó 8 tháng trong năm - những rào cản về mặt địa lý biệt lập giúp họ hạn chế tối đa tác động của thế lực bên ngoài. Thứ hai, Phật giáo Tây tạng đóng vai trò quan trọng giúp bảo vệ thế giới quan bản địa và lòng tự trọng - một thế giới quan nhắc nhở mọi người rằng chúng ta là một phần của mạng lưới các mối quan hệ rộng lớn; và con người là một phần của thế giới này.

Cô Helena chia sẻ rằng đây là những điều căn bản mà ông bà tổ tiên chúng ta đều biết. Đây là một điều rất dễ hiểu: khi chúng ta sống dựa vào nơi ta sống, điều đó có nghĩa là những thứ ta cần, từ thực phẩm, áo quần, nơi trú ngụ, cho đến nước uống hay động vật… tất cả đều có sẵn ở xung quanh chúng ta. Vì thế, mọi người đều hiểu rằng chúng ta sống phải dựa vào tự nhiên. Chỉ khi chúng ta bị đẩy vào thành phố, và chúng ta trở nên phụ thuộc vào “nền kinh tế” - thứ mà chúng ta chẳng hề nhìn thấy, cũng chẳng biết những con người sống trong đó - và chúng ta bắt đầu đánh mất đi sự phụ thuộc vào tự nhiên (trong tâm trí). Sống trong thành phố, con người trở nên cạnh tranh hơn.

Khi ở Ladakh, cô Helena được may mắn trải nghiệm một văn hoá chưa bị tác động bởi hệ thống tây phương. Mọi người sống dựa vào mảnh đất, sống tương thuộc lẫn nhau.

“Cơ duyên dẫn tôi đến đây là nhờ tham gia một đoàn làm phim. Trước đó, tôi lớn lên ở Thuỵ Điển, sau đó tôi lại học đại học ở Đức, từng sống ở Mỹ và ở Paris. Tôi đã nói được 6 ngôn ngữ, đồng thời tôi cũng xê dịch rất nhiều. Nhờ đó, tôi đã quan sát những nền văn hoá truyền thống, khác nhau. Vì thế có thể nói là tôi đã thấy nhiều ngóc ngách khác nhau của thế giới này. Tôi nghĩ rằng khi đến Ladakh, tôi chỉ hỗ trợ đoàn làm phim mà thôi. Nhưng khi đến đó, tôi lại yêu mến những con người nơi đây, đó là “yêu từ cái nhìn đầu tiên”. Sau khi đoàn làm phim rời đi, tôi quyết định ở lại, tiếp tục học lên tiến sĩ về ngôn ngữ học. Sau cùng, tôi làm việc cùng giáo sự Noam Chomsky tại MIT, là một nhà ngôn ngữ học rất nổi tiếng.

Từ những ngày đầu tiên, tôi đã nhận ra rằng hệ thống phương tây sắp đổ bộ sẽ phá huỷ cách sống của người Ladakh, cũng như sự tự tôn của họ. Hệ thống này sẽ khiến họ cảm thấy ngu ngốc và thấp kém, không “tiến bộ” như những người phương tây. Mà bản chất chỉ là họ có những ấn tượng sai lệch về những người từ châu âu mà thôi. Họ không biết rằng ở phương tây người ta làm việc cực lực hơn rất nhiều so với người Ladakh, nhiều giờ một ngày, và càng nhiều hơn trong một năm. Họ không hề biết điều đó. Khi gặp người đi du lịch, có vẻ như họ không cần làm việc. Vì những người như chúng tôi có tiền, đi du lịch, tận hưởng cuộc sống, như thể ngày nào cũng là ngày lễ và chẳng cần phải đi làm. Vì thế tôi bắt đầu chia sẻ với người Ladakh về một bức tranh thực tế hơn về phương Tây, và tôi cũng nhận ra rằng điều này thật sự quan trọng với họ. Sau cùng, với tất cả chúng ta, việc bảo vệ nền kinh tế địa phương là rất cần thiết.

Chúng ta cần phải biết về những gì đang diễn ra ở những nơi khác, bởi vị truyền thông nói chung chỉ ghì chặt ta trong một góc nhìn hạn hẹp của một quốc gia, thiếu đi cái nhìn thực tế đang xảy ra ở các quốc gia khác. Vì vậy, từ những ngày đầu tiên, tôi đã đầu tư vào việc thúc đẩy sự phi tập trung hoá khởi nền kinh tế toàn cầu, và bắt đầu nói nhiều hơn về Ladakh và nhiều nơi khác trên thế giới.”

Từ những trải nghiệm đó, cô Helena đã không ngừng kêu gọi sự hợp tác quốc tế, cùng nhau hành động để hiện thực hoá, phổ biến địa phương hoá. Và đây cũng chính là những gì cô và Local Futures đang làm.

Định nghĩa localization

Từ đơn đăng ký tham dự, nhiều người tỏ ra rất quan tâm đến địa phương hoá, vì vậy Vcil Community đã đặt câu hỏi về định nghĩa và bản chất của địa phương hoá là gì. Và đây là câu trả lời của cô.

Theo cô, về căn bản, địa phương hoá là sự thúc đẩy tiến trình thay đổi xã hội, hướng đến tái thiết và tái lập kết nối giữa con người với nhau, đặc biệt là những kết nối liên thế hệ (đây cũng là một khía cạnh khác mà văn hoá tiêu dùng đang phá hoại) giữa người trẻ và thế hệ trước. Sự kết nối đây không chỉ là về sự cảm nhận, mà còn được thể hiện qua sự tương thuộc (interdependence). Mọi người cần hỗ trợ lẫn nhau, một cách thực tiễn trong đời sống. Ví dụ các thế hệ cùng nhau nuôi dưỡng con cái, thay vì người trẻ phải tự thân nuôi con trong một gia đình hạt nhân, mà cô cho rằng rất thiếu lành mạnh.

Cô viện dẫn rằng điều này chưa bao giờ diễn ra trong lịch sử tiến hoá của loài người. Trong những xã hội truyền thống, mỗi người mẹ đều có nhiều người khác cùng hỗ trợ trong việc chăm sóc, nuôi dạy con. Trong gia đình hạt nhân hiện nay (chỉ có bố mẹ và con cái), phụ nữ dễ cảm thấy tội lỗi, vì họ thường cảm thấy bản thân không đủ tốt (vì có quá nhiều thứ phải lo, từ nuôi con, chăm sóc việc nhà, chăm sóc chính mình…). Chưa kể, cả toàn bộ tiến trình làm mẹ không được tôn trọng trong một nền văn hóa trọng tiêu dùng.

Khi sự tương thuộc được tái lập, những thành tố của hạnh phúc theo đó cũng được phát triển theo, từ sức khoẻ cho đến nền kinh tế.

Bên cạnh đó việc rút ngắn khoảng cách là một khía cạnh quan trọng khác. Hiện nay, chúng ta đang phải dựa dẫm vào những sản phẩm được sản xuất cách ta hàng nghìn kilomet. Khi chúng ta phụ thuộc vào hệ thống và những người ta không hề biết, ta sẽ cảm thấy không cần phải tử tế, thấu cảm hay cẩn trọng gì cả. Cô Helena cho rằng, nếu ta muốn thực hành những giá trị tâm linh nào, thì hành động theo địa phương hóa cũng là một cách, vì ta thấy mọi thứ, nhận thức được mọi thứ, và chúng ta có thể thấu cảm, tử tế và rộng lượng. Trong nền kinh tế đủ nhỏ như vậy, nếu ai đó hành xử tệ, có ý đồ xấu, ai cũng sẽ phát hiện ra; vì rất dễ để biết ai đó quanh mình chỉ nhắm đến tiền bạc, hay chỉ quan tâm đến bản thân mình chứ không phải cả cộng đồng.

Trái ngược lại, toàn cầu hoá là một tiến trình nơi tất cả chúng ta trở nên phụ thuộc vào một cấu trúc kinh tế ở cách xa nơi ta sống. Siêu thị là một cấu trúc như thế, và chúng che giấu rất nhiều. Khi mua thực phẩm ở siêu thị, chúng ta không hề biết rằng những người nông dân bị đối xử như nô lệ. Chúng ta không biết rằng đồ ăn có rất nhiều hoá chất độc hại, do đó nhiều người đang gặp phải căn bệnh mất trí nhớ, ung thư hay Alzheimer. Chẳng ai biết đến những điều đó cả, bởi vì chúng ta đang sống trong một hệ thống mà chúng ta không thể bắt đầu hành xử tử tế, có ý thức hay biết quan tâm được. Quan tâm hay tử thế như thế nào được khi những gì ta dùng hằng ngày đều đánh đổi bằng sự áp bức, bóc lột và thiếu bền vững ở đâu đó?

Hệ thống toàn cầu ngày nay bắt đầu từ sự áp bức và bạo lực. Cụ thể là khởi nguồn từ chế độ nô lệ, bắt đầu từ việc đẩy cộng đồng khỏi mảnh đất họ sinh sống tại châu Âu. Phong trào đó gọi là phong trào rào đất cướp ruộng (enclosure movement). Điều này xảy ra khi tầng lớp giàu có thúc đẩy những đạo luật mới cho phép họ lấy đất và đẩy cộng đồng địa phương khỏi nơi họ sống. Và những người mất đất đó bị đẩy vào các thành phố lớn. Trong những thành phố này, họ phải phụ thuộc vào giới tinh hoa, những người làm thương mại toàn cầu - những kẻ đã thiết lập những điều kiện để nô lệ con người ở những quốc gia ở phía bên kia bán cầu. Những người này bị ép phải làm các công việc nặng nhọc, trong điều kiện tồi tệ để trồng các loại cây như bông, trà, chuối hay bất cứ thứ gì tầng lớp này cần để buôn bán ở châu Âu. Vì vậy, hệ thống này khởi nguồn từ châu Âu, do những người đàn ông da trắng tạo ra, và điều cốt lõi là tách con người khỏi nhau, và tách rời khỏi nơi họ sống.

Khi hiểu được bức tranh rộng lớn, và tiến trình lịch sử, chúng ta sẽ hiểu được tại sao khắp thế giới, mọi người sẽ thu được những lợi lạc to lớn nếu làm ngược lại với toàn cầu hoá. Thay vì phụ thuộc vào các ngân hàng hay tập đoàn toàn cầu, mọi người bắt đầu ủng hộ hoặc khởi sự hỗ trợ các ngân hàng quốc gia hoặc các doanh nghiệp ở trong nước hay ở trong khu vực. Cũng đừng lầm tưởng rằng chúng ta ngay lập tức thực hiện mọi thứ trong phạm vi ngôi làng. Mà nó có nghĩa là với sản xuất thực phẩm và chăm sóc trẻ em, chúng ta muốn vận hành trong không gian của địa phương. Bởi khi thực phẩm được sản xuất tại địa phương hoặc vùng lân cận, gần hoặc ngay cạnh nơi ta sống, thực phẩm có thể tươi hơn và lành tính hơn, phù hợp với sự đa dạng sinh học, môi trường và khí hậu địa phương; so với những sản phẩm bị vận chuyển vòng quanh thế giới, được bảo quản bởi các chất hoá học, hay biến đổi gen để trông hấp dẫn hơn.

Từ đó, cô Helena kết luận: tiến trình toàn cầu hoá về căn bản là tiến trình của sự chia tách, kéo con người khỏi mảnh đất họ sống, rồi đẩy họ vào các đô thị, nơi họ không còn có thể phụ thuộc và tương hỗ lẫn nhau. Hiện tại, phần đông đang phụ thuộc vào công việc, tiền bạc và quyền lực từ ai đó. Và mọi người buộc phải cạnh tranh lẫn nhau để tranh dành, ai cũng trở thành đối thủ. Và rõ ràng, như cô phân tích, cắt đứt mối liên hệ giữa người trẻ và người lớn tuổi vì người trẻ giờ phải di cư lên thành phố đông đúc và chật chội. Trong khi đó, nếu sống ở vùng quê, chúng ta sẽ có nhiều thời gian và không gian hơn để các thế hệ kết nối với nhau.

Từ những phân tích trên, địa phương hoá có thể hiểu là làm điều ngược lại với toàn cầu hoá. Chúng ta sẽ tìm cách hỗ trợ việc thiết lập sự kết nối giữa các mối quan hệ với nhau, giữa con người và đất đai. Nếu sống ở thành phố, chúng ta có thể giúp nông dân trong vùng bằng cách tạo ra các khu chợ địa phương, thành lập hợp tác xã, cả cửa hàng chỉ bán sản phẩm địa phương. Không chỉ dừng lại ở việc thay đổi thói quen mua sắm, chúng ta có thể hỗ trợ bằng nhiều cách khác nhau, từ tiền bạc, sức lực, thời gian cho đến các kết nối với những sáng kiến đang nỗ lực tạo các khu chợ địa phương hay làm việc với người nông dân. Hay chúng ta cũng có thể hỗ trợ những ý tưởng đang cố gắng kết nối người trẻ với những người lớn tuổi.

Ở châu Âu, trong các thành phố, những sáng kiến về nhà ở cộng cư (co-housing) là một sáng kiến để kiến tạo một không gian sống, nơi mọi người có thể hỗ trợ nhau, hiểu biết lẫn nhau. Ở đó mọi người cùng nhau nuôi dưỡng những đứa trẻ, người già được chào đón và tôn trọng. Có thể thấy, nhiều sáng kiến như vậy đang được thử nghiệm và vận hành, ngay cả ở trong thành phố, bạn cũng có thể tìm cách để kết nối với mọi người và với tự nhiên.

Làm sao truyền thông rằng localization quan trọng — Giáo dục bức tranh lớn

Vậy theo cô, làm thế nào để chúng ta có thể truyền tải đến mọi người rằng địa phương hóa (localization) thực sự quan trọng? Kinh nghiệm của Local Futures trong việc lan tỏa phong trào này là gì?

Theo cô Helena, điều quan trọng nhất chúng ta có thể làm là giáo dục. Bà đặc biệt cho rằng chúng ta cần giáo dục người lớn nhiều hơn — tức là những người từ khoảng 18 tuổi cho đến 100 tuổi. Chúng ta cần giúp mọi người nhìn thấy bức tranh tổng thể, để hiểu vì sao thế giới hiện nay lại có quá nhiều vấn đề. Tại sao ô nhiễm lại nghiêm trọng như vậy? Tại sao trầm cảm ngày càng phổ biến? Tại sao có quá nhiều người không hạnh phúc? Và tại sao cả bệnh lý về tinh thần lẫn thể chất đều gia tăng?

Khi hiểu được điều đó, chúng ta sẽ hiểu được bản chất của hệ thống mà mình đang sống trong. Đó là một hệ thống công nghệ – kinh tế (techno-economic system). Như cô đã đề cập trước đó, hệ thống này bắt đầu từ thời các cường quốc châu Âu thúc đẩy thương mại toàn cầu, trong đó các thương nhân toàn cầu dựa vào chế độ nô lệ.

Ngay cả ở châu Âu, khi bông được đưa từ Ấn Độ về (quá trình sản xuất bông vốn dĩ đã nô lệ hoá người dân Ấn Độ), rất nhiều người dân ở châu Âu đã bị đẩy khỏi đất đai của mình để vào làm việc trong những nhà máy dệt ngày càng lớn, sản xuất vải theo mô hình công nghiệp. Và các chủ nhà máy đã đối xử với công nhân của mình chẳng khác gì nô lệ. Họ bị bóc lột và đối xử vô cùng tệ bạc. Đây là một chương lịch sử dài và đáng thảo luận sâu hơn về nó.

Cô cho rằng điều này rất quan trọng, bởi vì ngày nay hệ thống ấy đã thực sự mang tính toàn cầu. Giới tinh hoa ở mọi quốc gia đều đã góp phần duy trì nó, và đáng tiếc là phần lớn các chính phủ cũng vậy. Ngay cả ở quê hương cô là Thụy Điển, dù là chính phủ thiên tả hay thiên hữu, cả hai đều tiếp tục trao ngày càng nhiều quyền lực và nguồn lực cho các ngân hàng và tập đoàn toàn cầu.

Điều bi kịch là ở khắp nơi, có tới 99% người dân đang phải gánh chịu hậu quả của hệ thống này. Nhưng các nhà lãnh đạo chính phủ lại không bị buộc phải lùi lại để nhìn nhận vì sao những chính sách cụ thể — chẳng hạn như thúc đẩy thương mại ngày càng nhiều hay gia tăng không ngừng mức tiêu thụ năng lượng — lại đang dẫn đến tình trạng nghèo đói gia tăng ngay trong chính đất nước của mình. Họ không nhận ra rằng cái được gọi là tăng trưởng kinh tế thực chất đang khiến một số ít tỷ phú ngày càng giàu hơn, trong khi đa số người dân lại ngày càng nghèo đi.

Vì thế, phần lớn mọi người — kể cả tầng lớp trung lưu ở các nước phương Tây — đều phải làm việc nhiều hơn, vất vả hơn chỉ để có thể mua được một căn nhà, có đủ thực phẩm trên bàn ăn, hay chi trả cho giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Những nhu cầu cơ bản này ngày càng trở nên đắt đỏ.

Thế nhưng những số liệu thống kê mà chúng ta thường được nghe lại không phản ánh sự thật. Điều quan trọng không phải là chúng ta kiếm được bao nhiêu tiền, mà là chúng ta phải làm việc bao nhiêu giờ mỗi ngày, bao nhiêu giờ mỗi tuần để có thể đáp ứng những nhu cầu cơ bản như nhà ở, thực phẩm và các dịch vụ thiết yếu. Thực tế là mỗi năm trôi qua, chúng ta đều phải làm việc lâu hơn và vất vả hơn.

Cô cũng nhấn mạnh rằng, trách nhiệm thuộc về chính chúng ta — những người dân, đặc biệt là những người có điều kiện và đặc quyền hơn — phải cùng nhau hành động trước cuộc khủng hoảng mà chúng ta đang đối mặt. Chúng ta cần nói thật rõ điều gì đang xảy ra, đồng thời mạnh mẽ ủng hộ một hướng đi hoàn toàn ngược lại: con đường tái kết nối. Đó là sự tái kết nối giữa con người với con người, và giữa con người với thiên nhiên. Chính sự tái kết nối ấy mới là hình thức giao tiếp quốc tế tốt đẹp và có ý nghĩa hơn.

Thực ra, điều chúng ta cần là một phong trào hòa bình các cộng đồng trên phạm vi toàn cầu. Bởi các nhà lãnh đạo chính phủ hiện nay đang bị khóa chặt trong một thế giới quan cạnh tranh và quá phụ thuộc vào công nghệ. Họ đang đầu tư ngày càng nhiều vào AI như một cỗ máy chiến tranh, đồng thời sử dụng AI như một công cụ để thao túng chúng ta trên mạng xã hội, tương tự như cách các thuật toán đang vận hành.

Các thuật toán hiện nay biết rất rõ rằng nếu chúng ta trở nên thù ghét nhau hơn, bị chia rẽ và cực đoan hơn thì càng có nhiều tiền chảy lên phía trên. Càng nhiều lượt nhấp chuột thì càng nhiều lợi nhuận cho những người ở đỉnh của hệ thống. Vì vậy, chúng đang khuyến khích xung đột và bạo lực.

Để hiểu rõ hơn về các thiết kế và thuật toán, cô Helena gợi ý chúng ta xem bộ phim Song đề Xã hôi (The Social Dilemma). Bộ phim cho thấy các thuật toán giống như những cỗ máy kiếm tiền, được tạo ra để hút của cải về cho các tỷ phú công nghệ.

AI là một công nghệ được xây dựng trên nền tảng của các thuật toán đó. Vì vậy, điều quan trọng là chúng ta cần từ chối việc để AI nằm trong tay của hệ thống hiện nay. Có thể AI sẽ mang lại lợi ích trong một số lĩnh vực, nhưng điều đó sẽ không thể xảy ra nếu chúng ta không có sự tham gia dân chủ trong việc quyết định AI sẽ được sử dụng như thế nào, và ai sẽ có quyền kiểm soát nó.

Đó là một công cụ vô cùng mạnh mẽ, và nó tuyệt đối không nên nằm trong tay của một nhóm nhỏ các tỷ phú công nghệ.

Điều cô Helena nhấn mạnh là hành động thực tiễn đó là giáo dục — giúp mọi người nhìn thấy bức tranh tổng thể — chính là hành động quan trọng nhất.

Đó cũng là lý do vì sao Local Futures đã cố gắng thực hiện đủ mọi hình thức: từ viết sách, làm phim tài liệu, xuất bản các bài viết, đến tổ chức các hội thảo, hội nghị, các chuyến diễn thuyết quốc tế, cũng như những chuyến trao đổi thực địa, để giúp mọi người trực tiếp học hỏi từ thực tế và hiểu rõ điều gì đang thực sự diễn ra trên thế giới.

Economics of Happiness và GDP

Những gì cô Helena vừa chia sẻ nói khá nhiều về những mặt trái của mô hình tăng trưởng hiện nay. Vì vậy Vcil Community đã đặt ra câu hỏi: Kinh tế hạnh phúc (Economics of Happiness) khác với cách chúng ta đang đo lường tăng trưởng kinh tế hiện nay như thế nào?

Trước hết, để hiểu điều này, chúng ta cần nhận ra rằng hầu hết các chính phủ trên thế giới hiện nay đều đo lường sự phát triển dựa trên GDP hoặc đôi khi là GNP — tức Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product) hoặc Tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Product).

Nếu nhìn một cách trung thực, ta sẽ thấy rằng chỉ số này tăng lên mỗi khi có một giao dịch tiền tệ diễn ra. Về bản chất, nó gần như chỉ là một thước đo của mức độ thương mại hóa trong xã hội.

Điều đó có nghĩa là khi tình bạn tan vỡ, khi sự gắn kết giữa các thế hệ trong cộng đồng bị đứt gãy, hay khi những điều mà gia đình, bạn bè hoặc hàng xóm từng làm để giúp đỡ lẫn nhau dần biến mất, thì điều đó lại… không hề bất lợi cho GDP.

Thậm chí, ở một mức độ nào đó, những mối quan hệ ấy còn đi ngược với logic của nền kinh tế hiện đại và cách các chính phủ quốc gia đang đo lường tăng trưởng.

Ví dụ, nếu bạn quyết định tự trồng một khu vườn, sống khỏe mạnh và tự sản xuất thực phẩm hữu cơ cho gia đình mình, thì GDP sẽ… “đau khổ”. Trong khi đó, nếu một người mắc bệnh ung thư và phải điều trị hóa trị trong một thời gian dài, GDP lại tăng lên. Nếu xảy ra nhiều vụ trộm hơn, khiến mọi người phải mua xe mới hay tivi mới để thay thế tài sản bị mất, GDP cũng tăng. Thậm chí còn phi lý hơn nữa: nếu một thành phố bị ném bom và san phẳng hoàn toàn, thì quá trình tái thiết thành phố ấy lại được xem là rất có lợi cho GDP. Thật khó tin khi đến tận bây giờ chúng ta vẫn tiếp tục sử dụng một chỉ số như vậy để đánh giá sự phát triển.

Các nhà hoạt động môi trường đã chỉ ra điều này từ rất lâu. Nhưng hiện nay, áp lực hướng tới thương mại hóa và cách nhìn thế giới theo logic của các tập đoàn doanh nghiệp vẫn đang vô cùng mạnh mẽ.

Trong bối cảnh trên, cô Helena chia sẻ rằng bản thân cảm thấy rất may mắn vì có cơ hội kết nối với rất nhiều người trên khắp thế giới đang đặt câu hỏi về hệ thống này. Đặc biệt khi cô có cơ hội làm việc với nhiều nhóm cộng đồng ở cấp cơ sở — những nhóm nhỏ, rất gần gũi với đời sống địa phương, và phần lớn được dẫn dắt bởi phụ nữ. Ở đó, mọi người đang đi theo một hướng hoàn toàn ngược lại. Họ xây dựng tinh thần cộng đồng, hỗ trợ lẫn nhau, và bằng cách rút ngắn khoảng cách — đặc biệt là khoảng cách trong hệ thống thực phẩm — họ đã tạo nên rất nhiều câu chuyện thành công tuyệt vời.

Cô đã kể ra nhiều ví dụ mà cô từng làm việc cùng hoặc biết đến. Có những dự án giúp chữa lành cho những người đến từ thành phố — những người đang phải vật lộn với nghiện ngập hoặc trầm cảm. Những người này khi tham gia vào một nông trại nhỏ của địa phương và học cách lao động, sản xuất một cách ý nghĩa, quá trình hồi phục của họ diễn ra rất nhanh. Những dự án này cũng cho thấy rằng họ có thể phục hồi những vùng đất từng bị tàn phá bởi nền nông nghiệp công nghiệp hiện đại dựa trên hóa chất. Các loại hóa chất đã hủy hoại đất đai, làm cho đất mất đi sự sống. Nhưng khi người dân cùng nhau xây dựng một dự án địa phương, họ chăm sóc đất, phục hồi đất, làm phân compost và bắt đầu trồng trọt trở lại. Đặc biệt, khi họ phát triển các mô hình nông nghiệp đa dạng sinh học, kết hợp nhiều loại cây trồng và cả vật nuôi, thì hiệu quả còn cao hơn nữa. Phân chuồng từ vật nuôi là một trong những nguồn dinh dưỡng tốt nhất cho đất. Đó là lý do vì sao mô hình nông nghiệp đa tầng tán, nhiều loại cây (mixed farming) là hướng đi lý tưởng.

Sau cùng, điều quan trọng nhất là sức khỏe và sự hạnh phúc — hay rộng hơn là phúc lợi của toàn bộ sự sống. Chúng ta đều biết rằng mọi thứ đều liên kết với nhau. Chúng ta đều biết điều đó và thường xuyên nói về điều đó.

Thế nhưng đáng tiếc là, mặc dù các chính phủ và cả Liên Hợp Quốc cũng nói về tính kết nối ấy, các chính sách kinh tế của họ lại đang đưa chúng ta đi theo hướng hoàn toàn ngược lại. Chính vì vậy, những phong trào của người dân trên khắp thế giới và các sáng kiến từ cộng đồng địa phương mới là nguồn cảm hứng lớn lao nhất. Họ đang chứng minh bằng thực tế những lợi ích của một con đường khác, thậm chí tác động tích cực đến các chính sách.

Để ví dụ, cô Helena chia sẻ rằng ở Mỹ, tại một số bang, các sáng kiến cộng đồng thậm chí đã tạo được ảnh hưởng đến chính sách công. Ví dụ, những người có thu nhập thấp được chính phủ hỗ trợ thông qua chương trình phiếu thực phẩm (food stamps), tức là họ nhận được một khoản hỗ trợ để mua thực phẩm.

Và tại một số bang, nếu họ dùng khoản hỗ trợ đó để mua thực phẩm ở chợ nông sản địa phương (farmers’ market), thì giá trị của khoản hỗ trợ sẽ được nhân đôi. Nói cách khác, họ sẽ mua được lượng thực phẩm gấp đôi so với khi sử dụng khoản tiền đó tại siêu thị. Đây là một cách tuyệt vời để đồng thời hỗ trợ người nông dân, phục hồi đất đai và giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn.

Đó là một ví dụ cho thấy các chính sách cũng có thể thay đổi, dù mới chỉ ở quy mô địa phương.

Ở cấp quốc gia, hiện tại cô Helena chưa tìm thấy một ví dụ thực sự tích cực về sự thay đổi chính sách. Nhưng ở cấp địa phương, sức mạnh của người dân — people power — đã thực sự tạo ra ảnh hưởng và góp phần thay đổi một số chính sách theo hướng tích cực.

Ngộ nhận: localization là "đi lùi", là cô lập?

Vẫn có một quan điểm — hay có thể nói là một ngộ nhận — rằng địa phương hóa (localization) đồng nghĩa với việc quay ngược về quá khứ hoặc cổ súy cho sự khép kín, cô lập. Theo cô thì điều này có đúng không?

Đó là một lập luận rất phổ biến, và trên thực tế, chính các tập đoàn lớn là những bên liên tục thúc đẩy cách nhìn này. Trong các doanh nghiệp toàn cầu có những nhóm nghiên cứu chiến lược (think tanks) thực sự xem địa phương hóa là một mối đe dọa rất lớn. Bởi lẽ, nếu mọi người ăn thực phẩm được sản xuất ngay tại địa phương, thì các tập đoàn toàn cầu sẽ không còn kiếm được lợi nhuận từ chuỗi cung ứng của họ.

Nếu thực phẩm được mua từ nông dân địa phương và các cửa hàng địa phương, thì những doanh nghiệp toàn cầu sẽ mất đi nguồn doanh thu.

Điều đó có nghĩa là có những người đang làm suy yếu nền kinh tế địa phương. Chúng ta có thể nghĩ họ là người xấu, nhưng thực ra không hẳn vậy.

Cô Helena chia sẻ thêm một góc nhìn rất thú vị: Những người như vậy, thật ra đã được đào tạo để nghĩ rằng: “Tôi đang làm việc cho công ty này. Công ty phải tăng doanh thu. Và những doanh nghiệp nhỏ kia chính là đối thủ cạnh tranh.”

Đó là một lối tư duy đã tách rời khỏi đời sống thực đến mức người ta có thể xem việc triệt tiêu các doanh nghiệp nhỏ là điều hoàn toàn bình thường, đơn giản vì đó là điều họ phải làm để công ty tiếp tục tăng trưởng và duy trì hoạt động. Cô muốn mọi người hiểu rằng đây không phải là câu chuyện về người tốt và người xấu. Đây là vấn đề của một hệ thống tồi. Một hệ thống gây bất lợi cho đại đa số, tức là phần lớn xã hội. Ngay cả tầng lớp trung lưu khá giả, hay thậm chí tầng lớp giàu có ở nhiều quốc gia hiện nay, cũng đang phải vật lộn để giữ được cuộc sống của mình: giữ ngôi nhà, công việc của riêng mình. Điểm chung là gần như ở bất cứ đâu, họ cũng phải chạy nhanh hơn mỗi ngày chỉ để đứng yên tại chỗ.

Hãy tập trung vào việc hệ thống này đang khiến gần như tất cả mọi người nghèo đi — ngoại trừ một nhóm rất nhỏ các tỷ phú. Có lẽ chỉ vài nghìn người là thực sự chiến thắng trong hệ thống điên rồ này. Vì vậy, hãy xem đây là một hệ thống điên rồ, chứ không phải là một hệ thống được tạo ra bởi những con người xấu xa.

Tuy nhiên, một phần trong chiến lược của hệ thống này là liên tục phát đi thông điệp rằng địa phương hóa là tư tưởng cánh hữu, ích kỷ hay khép kín, nhất là ở bối cảnh của các nước phương tây. Họ sử dụng từ “chủ nghĩa bảo hộ” (protectionism) như một khái niệm mang ý nghĩa tiêu cực, khiến việc bảo vệ doanh nghiệp địa phương bị xem là hành động vị kỷ hay cực đoan.

Điều nghịch lý là chính những người luôn nói rằng hỗ trợ kinh tế địa phương là ích kỷ hay cô lập lại không hề biết điều gì đang xảy ra với những người lao động ở đầu bên kia thế giới, liệu họ có đang gặp khó khăn để duy trì doanh nghiệp hay cửa hàng nhỏ lẻ hay không. Hầu hết các hành động phá hoại đều có sự nhúng tay của các tập đoàn lớn.

Họ không nhìn thấy những cánh rừng bị chặt phá để trồng cọ dầu. Họ không nhìn thấy những tác động khủng khiếp đối với môi trường hay con người. Nếu họ sở hữu một tập đoàn may mặc lớn, và cử người đến Việt Nam hay các làng quê ở Trung Quốc để kiểm tra điều kiện làm việc, thì rất nhiều quản lý nhà máy sẽ cảnh báo công nhân rằng: “Sắp có người đến kiểm tra. Nếu các anh chị dám nói bất cứ điều gì, các anh chị sẽ mất việc.” Vì thế thông tin về hiện trạng diễn ra rất nghèo nàn và không đầy đủ. Và chính sự thiếu minh bạch đó cho phép những người ở tầng cao nhất của các tập đoàn tiếp tục đưa ra những quyết định vô cùng hủy hoại, tiếp tục duy trì những điều kiện lao động phi nhân tính, gần như chế độ nô lệ.

Trong khi đó, họ lại nói rằng một cửa hàng nhỏ phục vụ cộng đồng địa phương là điều không tốt.

Do đó cô Helena nghĩ rằng khi nghe đến đây, hầu hết mọi người đều đồng tình rằng  những mối quan hệ gần gũi hơn mang lại một lợi thế rất lớn. Khi mọi người có thể trực tiếp nhìn thấy điều gì đang diễn ra trên mảnh đất nơi thực phẩm được trồng, họ sẽ biết người nông dân có đang sử dụng quá nhiều hóa chất hay không, có đang bóc lột lao động nhập cư hay lao động cưỡng bức hay không. Chính khả năng nhìn thấy và chịu trách nhiệm với nhau ấy là điều khiến địa phương hóa trở thành con đường gần nhất với những giá trị mà các truyền thống tâm linh trên khắp thế giới đều hướng đến: Đó là đối xử với người khác như cách ta mong được đối xử. Là sống bằng lòng trắc ẩn và sự quan tâm.

Trong các cộng đồng địa phương, chúng ta đều biết rằng khi mình giúp người khác thì cũng sẽ có người giúp lại mình. Đó là một hệ thống mà tất cả đều cùng có lợi.

Cô Helena nói rằng khi ở Ladakh, cô có cơ hội sống trong một nền văn hóa và một nền kinh tế mà điều đó thực sự tồn tại. Cô tự hỏi không biết ở  Việt Nam có bao nhiêu người đã từng trải nghiệm điều này này rồi. Và cô cũng tận mắt chứng kiến điều gì xảy ra khi hệ thống kinh tế toàn cầu tràn vào. Vì vậy, những gì cô chia sẻ với tất cả chúng ta không chỉ là một ý tưởng hay một niềm tin đơn thuần, mà đó là điều cô đã trực tiếp quan sát và trải nghiệm.

Kinh nghiệm trên cũng đưa đến một quan sát rằng ở nhiều nơi trên thế giới,  những xã hội có quy mô nhỏ thường tạo điều kiện cho người dân gắn kết hơn. Ví dụ, ở Thụy Điển, chỉ khoảng 10 triệu người cùng bầu ra một chính phủ. Trong khi đó, ở Hoa Kỳ, với hàng trăm triệu dân, khoảng cách giữa người dân và chính phủ lớn hơn rất nhiều. Và đó chắc chắn không phải là điều tích cực. Dĩ nhiên, quy mô nhỏ không có nghĩa là mọi thứ sẽ hoàn hảo.

Nhưng điều rất khó để mọi người hiểu là: nếu hôm nay bạn đến một ngôi làng nhỏ ở Việt Nam, hay đến một ngôi làng nhỏ ở Thụy Điển hoặc Hoa Kỳ, thì điều chúng ta nhìn thấy không phải là một nền kinh tế địa phương đúng nghĩa. Đó không phải là hình mẫu của địa phương hóa mà chúng tôi đang nói đến. Điều chúng ta đang thấy là những cộng đồng đã bị bỏ lại phía sau.

Quyền lực đã bị tập trung vào các đô thị lớn — và thậm chí không chỉ ở các đô thị, mà còn ở cấp độ toàn cầu. Vì vậy, người dân ở những vùng xa trở nên bị lề hóa và mất dần quyền quyết định cuộc sống của chính mình. Đó là lý do vì sao nhiều ngôi làng hẻo lánh ngày nay có thể mang lại cảm giác buồn bã hay thiếu sức sống, vì họ không còn sống trong một nền kinh tế địa phương nữa.

Chính vì vậy, điều vô cùng quan trọng là chúng ta phải phân biệt rõ giữa những ngôi làng bị nền kinh tế toàn cầu bỏ lại phía sau với phong trào địa phương hóa mới.

Local là khái niệm tương đối — đa dạng và năng suất

Một số người thường mắc sai lầm khi hình dung rằng “địa phương” (local) là một khái niệm có những ranh giới tuyệt đối và cố định. Trước hết, cô cũng muốn nhắc lại rằng, trong cách cô và Local Futures” sử dụng, “địa phương” là một khái niệm mang tính tương đối. Nó được hiểu trong mối tương quan với sự phụ thuộc vào các cấu trúc quyền lực toàn cầu. Nói cách khác, địa phương hóa là quá trình dịch chuyển sang những cấu trúc kinh tế gần gũi hơn với con người, dễ nhìn thấy hơn và minh bạch hơn. Local Futures do đó mong muốn thúc đẩy một chương trình chính trị và xã hội trong đó người dân thực sự có tiếng nói; đồng thời chăm lo đến sức khỏe của môi trường và sức khỏe của con người, với sự nhận thức rõ rằng thiên nhiên luôn có những giới hạn về khả năng cung cấp tài nguyên.

Nhưng cô cũng nhấn mạnh một điều rất quan trọng: “Địa phương hóa không có nghĩa là khan hiếm hay phải chấp nhận có ít hơn.” Điều kỳ diệu là khi các đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ hơn, và có nhiều người hơn trực tiếp làm việc trên đất đai, trên biển, trong rừng — nói rộng ra là cùng chăm sóc các hệ sinh thái tự nhiên — thì chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra năng suất cao hơn.

Lấy nghề đánh bắt cá làm ví dụ. Các cộng đồng ngư dân quy mô nhỏ trước đây đã dần bị thay thế bởi những tàu đánh cá công nghiệp sử dụng các loại lưới cào khổng lồ. Những tấm lưới này quét sạch cả đáy biển, và mỗi tấm lưới có kích thước lớn đến mức có thể chứa tới bảy chiếc tàu cỡ lớn. Trong khi đó, khi những người ngư dân đánh bắt bằng những con thuyền nhỏ, họ sẽ thả những con cá còn nhỏ trở lại biển.

Đó là một mối quan hệ hoàn toàn khác với thiên nhiên.

Điều tương tự cũng đúng vớ những khu rừng, cũng như cách chúng ta khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác. Hãy tưởng tượng có hai mảnh đất có diện tích bằng nhau, chẳng hạn mỗi mảnh rộng khoảng 5 héc-ta. Nếu trên một mảnh đất bạn chỉ trồng độc canh — ví dụ chỉ trồng cọ dầu hoặc chỉ trồng khoai tây — còn trên mảnh đất kia bạn áp dụng đa dạng hóa cây trồng, thì gần như trong mọi trường hợp, mô hình đa dạng sẽ tạo ra năng suất cao hơn.

Vì vậy, trên một hành tinh ngày càng đông dân, chúng ta càng có nhiều lý do để hướng tới nền kinh tế địa phương, với những trang trại đa dạng sinh học, kết hợp cả cây trồng lẫn vật nuôi.

Thế nhưng đó lại không phải là cách các tập đoàn lớn đang vận hành. Các tập đoàn sản xuất thực phẩm chủ yếu để tạo ra lợi nhuận, chứ không phải để nuôi sống con người hay nâng cao sức khỏe của nền kinh tế. Và nếu chúng ta tiếp tục để hệ thống kinh tế toàn cầu này chỉ phục vụ lợi ích của một số rất ít tỷ phú, thì phần lớn người dân trên hành tinh sẽ tiếp tục phải gánh chịu hậu quả.

Chính vì vậy, chúng ta cần nâng cao nhận thức của xã hội, trước hết để nền kinh tế quay trở lại nằm trong phạm vi mà các quốc gia dân chủ có thể quản trị và chịu trách nhiệm. Và cô hy vọng sẽ có đủ nhiều người thức tỉnh để có thể đưa nền kinh tế trở lại dưới sự giám sát và quyết định của các tiến trình ra quyết định có sự tham gia của các bên liên quan.

Hiện nay, điều đang diễn ra là các chính phủ trên thế giới đang cho phép các tập đoàn xuyên quốc gia hoạt động gần như không có những ràng buộc tương xứng, đồng thời nhiều tập đoàn còn tìm cách tránh hoặc giảm nghĩa vụ thuế.

Trong khi đó, người dân, các doanh nghiệp địa phương và các hoạt động kinh tế diễn ra trong phạm vi quốc gia lại phải chịu mức thuế ngày càng cao hơn và ngày càng nhiều quy định, thủ tục quản lý hơn. Điều đáng nói là nhiều quy định trong số đó lại phản tác dụng. Không ít quy định được ban hành nhằm khắc phục những hậu quả do chính các tập đoàn toàn cầu gây ra.

Thế nhưng, các tập đoàn này lại gần như không phải tuân theo những quy tắc tương tự. Thậm chí, khi một chính phủ cố gắng ban hành các chính sách để bảo vệ môi trường, họ còn có thể bị các tập đoàn kiện ngược thông qua các cơ chế pháp lý trong các hiệp định đầu tư hoặc thương mại quốc tế.

Vì vậy, điều chúng ta thực sự cần xem xét là sự khác biệt giữa hai cách vận hành của chính sách công. Một bên là thuế, trợ cấp và các quy định được thiết kế để nuôi dưỡng một nền kinh tế lành mạnh, phục vụ cộng đồng và môi trường. Bên còn lại là các cơ chế đang ưu ái và tạo điều kiện cho nền kinh tế toàn cầu hóa do các tập đoàn lớn chi phối. Đó mới là điểm cốt lõi mà chúng ta cần nhìn nhận và thảo luận.

Khó khăn trong hành trình — quan hệ với chính quyền

Trong suốt nhiều năm theo đuổi các chiến dịch và dành rất nhiều tâm huyết cho phong trào này, đâu là những khó khăn lớn nhất mà cô từng đối mặt? Và liệu cô có từng gặp nhiều xung đột với chính phủ không? Nếu chúng ta muốn thúc đẩy phong trào địa phương hóa, thì làm thế nào để có thể xây dựng mối quan hệ và hợp tác với các cơ quan nhà nước?

“Tôi nghĩ điều rất quan trọng cần ghi nhớ là hệ thống hiện nay đã phát triển đến mức này bởi vì chúng ta chưa thực sự hiểu rõ nó. Chúng ta chưa có một cách nhìn đủ sáng tỏ, chưa kết nối được các mảnh ghép của bức tranh tổng thể.

Chính vì vậy, tôi cho rằng chúng ta luôn cần bắt đầu bằng lòng trắc ẩn. Tuy nhiên, cần phân biệt rất rõ giữa việc sống với lòng trắc ẩn và việc chấp nhận hoặc dung túng cho những ý tưởng hay chính sách mang tính hủy hoại. Chúng ta phải rất rõ ràng và kiên định trong lập trường của mình, nhưng không nên biến người khác thành “kẻ xấu”.

Từ góc nhìn của tôi, tôi luôn hành động với những phương pháp đấu tranh hoà bình. Điều đó đúng cả trong cách chúng ta tranh luận bằng lý lẽ, lẫn trong các hoạt động xã hội hay biểu tình. Nếu có biểu tình, thì cũng luôn phải ôn hòa. Nếu có đối thoại, thì cũng luôn xuất phát từ sự tử tế. Cá nhân tôi chưa từng có xung đột với chính phủ. Tôi cũng từng tham gia các cuộc biểu tình, nhưng đều là những cuộc biểu tình bất bạo động.

Theo tôi, hình thức hoạt động xã hội đang bị xem nhẹ nhất hiện nay lại chính là nâng cao nhận thức. Và đó cũng là nơi chúng ta nên bắt đầu và tập trung nhiều hơn. Điều đầu tiên là giúp ngày càng nhiều người hiểu được bức tranh lớn. Tôi nghĩ chúng ta nên kết nối với tất cả những ai đang thuộc về các cộng đồng tâm linh, các phong trào vì hòa bình, các tổ chức hoạt động về phát triển bền vững, biến đổi khí hậu hay xóa đói giảm nghèo. Tất cả những vấn đề đó thực chất đều liên quan đến nền kinh tế. Nhưng phần lớn những người đang làm việc trong các lĩnh vực ấy vẫn chưa nhìn thấy mối liên hệ đó trong bức tranh tổng thể. Một khi chúng ta nhìn thấy bức tranh lớn, mỗi người vẫn có thể tiếp tục theo đuổi lĩnh vực mà mình quan tâm nhất. Nhưng đồng thời, tất cả chúng ta đều có thể kết nối những vấn đề đó với nhu cầu phải thay đổi hệ thống kinh tế. Khi làm được điều đó, tiếng nói của chúng ta sẽ mạnh mẽ hơn rất nhiều, và đủ các chính phủ chú ý và phải thay đổi.

Thực hành cụ thể — cá nhân, gia đình, cộng đồng

Trong cuộc trò chuyện hôm nay, cô đã gợi ý một số cách để hiện thực hóa địa phương hóa, như kết nối với nhiều người hơn, xây dựng các phiên chợ cộng đồng hay hỗ trợ người nông dân. Vậy ở cấp độ cá nhân, gia đình và cộng đồng, khi đã hiểu tất cả những điều này, chúng ta có thể bắt đầu bằng những hành động cụ thể nào ngay từ bây giờ?

Điều đầu tiên, bất kỳ ai đang đọc bài viết này, điều đầu tiên tôi mong các bạn làm là tìm thêm một hoặc hai người bạn, hay một đồng nghiệp có cùng mối quan tâm; như thế, bạn có thể thay đổi cách xưng hô từ “tôi” sang “chúng ta”. Khi đã có một nhóm nhỏ, hãy cùng nhau tự hỏi: “Trong hoàn cảnh hiện nay — khi việc kiếm sống ở nông thôn ngày càng khó khăn, khi chúng ta cảm thấy mình không có nhiều quyền quyết định đối với cuộc sống của chính mình — chúng ta có thể cùng nhau làm gì?”

Tại Local Futures, chúng tôi có rất nhiều tài liệu, phim, cũng như các phương pháp hỗ trợ để giúp mọi người chuyển từ nhận thức sang hành động. Nhưng bước đầu tiên luôn là cùng nhau suy nghĩ với tư cách một nhóm. Sau đó, hãy nâng đỡ nhau về mặt cảm xúc và tinh thần thông qua những cuộc trò chuyện sâu sắc. Điều này vô cùng quan trọng. Bởi vì chính trong một cộng đồng nhỏ, chúng ta có thể cùng nhau chữa lành phần nào những áp lực, căng thẳng và cảm giác trầm cảm mà cuộc sống hiện đại đang tạo ra.

Tiếp theo, mọi người hãy cùng nhau kết nối lại với thiên nhiên. Các bạn có thể cùng nhau tổ chức một chuyến đi theo tinh thần của một vision quest — một hành trình tìm kiếm sự soi sáng hoặc định hướng nội tâm, vốn là một thực hành có nguồn gốc từ nhiều cộng đồng bản địa. Ngay cả khi không có người hướng dẫn, các bạn vẫn có thể tự tổ chức một phiên bản đơn giản của hành trình này. Hãy đến một nơi còn giữ được nhiều nét tự nhiên nhất có thể. Hãy đưa cả trẻ em đi cùng và để các em có cơ hội hiện diện trong thiên nhiên một cách bình yên, thay vì chỉ tham gia các hoạt động mang tính cạnh tranh. Các bạn cũng có thể kết hợp chuyến đi với việc nhịn ăn nhẹ - fasting (nếu phù hợp), thiền định, cùng ngồi quanh đống lửa vào buổi tối, kể chuyện cho nhau nghe và cùng nhau hát.

Cùng nhau ca hát là một thực hành đã tồn tại trong hầu hết các nền văn hóa truyền thống trên thế giới. Nhưng nền kinh tế hiện đại đã dần làm mai một điều đó. Nó khiến mọi người bắt đầu nghĩ rằng: “Tôi không biết hát.” Ngay cả bản thân cô Helena trước đây cũng từng cảm thấy như vậy. Khi nghĩ lại thì cô nghĩ rằng đây là một điều thật khó tin khi nó xảy ra! Và đây là một trong những hệ quả mà nền kinh tế hiện đại tạo ra: nó khiến phần lớn chúng ta tin rằng mình không thể cất tiếng hát. Thay vào đó, chúng ta xây dựng một nền văn hóa chỉ có những ngôi sao biểu diễnnhững khán giả đứng xem. Đó không phải là một nền văn hóa mang lại hạnh phúc. Ngược lại, khi mọi người cùng nhau cất tiếng hát, đó là một trải nghiệm có chiều sâu tinh thần rất lớn. Con người đã làm điều đó cùng nhau trong hàng nghìn năm. Ngoài ra, còn rất nhiều cách khác để chúng ta nâng đỡ và chăm sóc lẫn nhau.

Nhưng đồng thời, cô cũng mời gọi mọi người bước vào một quá trình tư duy lại (rethinking). Chúng tôi muốn mọi người nhận ra rằng rất nhiều điều chúng ta từng được dạy trong trường học — từ những giả định về tiến bộ, về bản chất con người, cho đến cách chúng ta hiểu về nền kinh tế và sự phát triển — thực chất cần được xem xét lại. Chúng ta cần dũng cảm đặt câu hỏi và suy ngẫm lại rất nhiều niềm tin tưởng chừng như hiển nhiên.

Quá trình tư duy lại đó sẽ giúp chúng ta sẵn sàng chống lại những áp lực không ngừng từ một nền văn hóa tiêu dùng nhân tạo. Đồng thời, nó cũng mở đường cho việc tái sinh những giá trị văn hóa đích thực.

Đó là:

  • một nền văn hóa của niềm vui;
  • một nền văn hóa của sự quan tâm và chăm sóc;
  • một nền văn hóa của năng suất thực sự;
  • một nền văn hóa của sự hợp tác chân thành.

Và cô Helena muốn làm rõ đó không phải thứ ngôn ngữ “hợp tác” mang tính khẩu hiệu mà các tập đoàn thường sử dụng, mà là sự hợp tác thực sự giữa con người với nhau. Tương tự như vậy, chúng ta cần hướng tới phát triển bền vững thực sự, chứ không chỉ dừng lại ở những lời nói. Và chúng ta cũng cần tái sinh (regeneration) một cách đích thực, chứ không phải những mô hình được gắn nhãn là “nông nghiệp tái sinh” nhưng thực chất vẫn là những cánh đồng độc canh khổng lồ chỉ nhằm phục vụ xuất khẩu. Vì vậy, tư duy lại (rethinking) sẽ dẫn chúng ta đến hai điều:

Sự kháng cự trước những hệ thống không còn phục vụ con người, và sự tái tạo những nền tảng văn hóa, cộng đồng và kinh tế lành mạnh hơn.

Và cuối cùng, có một điều mà cô luôn muốn nhắc mọi người thực hành, đó là niềm vui biết ơn (rejoicing). Hãy thực hành điều đó mỗi ngày. Bởi khi nhìn vào tin tức hay quan sát những gì đang diễn ra trên thế giới, chúng ta rất dễ cảm thấy choáng ngợp, bất lực và chán nản. Thế nhưng, khi mở lòng để thực sự nhìn vào sự sống, khi mở mắt để cảm nhận sự kỳ diệu của cuộc sống, chúng ta sẽ nhận ra rằng phép màu hiện diện ở khắp mọi nơi.

Chỉ cần quan sát cách cơ thể ta hoạt động, ta đã thấy rất nhiều điều diệu kì ở trong đó. Mỗi cơ bắp của cơ thể đều đang trình diễn phép màu mỗi ngày, mỗi tế bào đều khác nhau và liên tục thay đổi trong từng khoảnh khắc. Nhìn vào đó thôi, chúng ta có thể thấy sự sống là một phép màu. Và khi chúng ta thực sự kết nối với sự sống, điều đó sẽ khơi dậy trong ta một cảm giác biết ơn sâu sắc và một niềm vui rất tự nhiên. Và chúng ta sẽ hoà điệu vào cuộc sống này.

Nhưng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng điều đó không chỉ đơn thuần là kết nối với sự sống. Bởi chúng ta cũng cần ý thức rằng hệ thống nhân tạo đang chống lại sự sống ấy vẫn tiếp tục vận hành. Vì vậy, chúng ta cần dành một phần thời gian của mình để kháng cự hệ thống đó — cả bằng tư duy lẫn bằng những hành động cụ thể, trong khả năng của mỗi người.

Đó là những điều cốt lõi mà cô Helena muốn gửi gắm.

Phần Hỏi & Đáp cùng Helena Norberg-Hodge

Hỏi & Đáp 1 — Cân bằng giữa hàng giá rẻ và kinh tế địa phương

[Điều phối – Vcil]: Có một câu hỏi trong phần chat, để mình đọc lên: "Một nền kinh tế địa phương nên được tổ chức như thế nào để kết hợp được cả hai thế mạnh — sự rẻ của hàng hoá từ bên ngoài, và khả năng tự chủ, vững vàng của địa phương?"

[Helena]: À, điều này lại tuỳ thuộc rất nhiều vào việc bạn đang nói đến khía cạnh nào. Và tôi muốn nhắc mọi người rằng thực phẩm là thứ duy nhất chúng ta sản xuất mà ai cũng cần đến mỗi ngày, đó là lý do vì sao khi bàn về sản xuất hàng hoá, việc tập trung vào thực phẩm lại quan trọng đến vậy. Mặt còn lại — chăm sóc trẻ nhỏ, người già, người bệnh, v.v. — cũng quan trọng không kém. Nhưng khi nói đến sản xuất hàng hoá, thực phẩm là trọng tâm. Nên khi bạn hỏi nó nên được tổ chức ra sao: có rất nhiều cách khác nhau để thực hiện.

Nếu bạn đang sống ở thành phố: trước hết, hãy cùng với một nhóm, tìm xem trong vùng có những người nông dân nào vẫn đang sản xuất ở quy mô tương đối nhỏ, và càng hữu cơ càng tốt — rồi xem bạn có thể giúp họ mở ra một kênh tiêu thụ hay không. Đó có thể là một phiên chợ nông sản, một cửa hàng, một hợp tác xã, hay một mô hình gọi là nông nghiệp được cộng đồng hỗ trợ (community supported agriculture). Bạn hãy tham khảo cuốn Cẩm nang Hành động Địa phương hoá (Localization Action Guide) của chúng tôi, trong đó có nhiều ví dụ về những cách làm khác nhau.

Còn khi bạn nhìn vào hàng giá rẻ và khả năng tự chủ của địa phương — chúng ta phải nhớ rằng những hàng hoá từ bên ngoài đưa vào, thứ mà bây giờ trông có vẻ rẻ, thực ra không hề rẻ. Chúng ta đang sống trong một hệ thống kinh tế lừa dối chính mình, bởi các chính phủ đang ưu ái các tập đoàn toàn cầu hơn là những người làm ăn địa phương. Nhưng bản thân họ cũng không nhận ra điều đó, vì họ chỉ đang chạy theo một công thức tăng trưởng kinh tế. Điều này có nghĩa là những bên tiêu tốn nhiều năng lượng hơn, nhiều tài nguyên hơn, vận chuyển đi xa hơn, dùng nhiều nhựa hơn, nhiều hoá chất hơn và cả lao động nô lệ — lại được phép đưa hàng hoá vào các nền kinh tế địa phương khắp thế giới với một mức giá thấp một cách giả tạo. Nếu mọi người thật sự hiểu chuyện gì đang diễn ra, thì đây quả là điều không khác gì tội ác.

Vậy nên việc cân bằng giữa hàng giá rẻ và hàng địa phương là điều mà, một khi mọi người hiểu ra chuyện gì đang xảy ra, họ sẽ muốn thay đổi. Nhưng nếu ai đó cảm thấy mình không đủ khả năng mua ở chợ nông sản địa phương và phải mua ở siêu thị — thì đây không phải là chuyện lên án con người, hay ép người tiêu dùng lúc nào cũng phải làm điều đúng đắn. Nhiều khi chúng ta còn chẳng thể làm điều đúng, vì ở nhiều nơi lựa chọn đúng đắn ấy đâu có sẵn. Vậy nên đây là chuyện của lòng trắc ẩn, và cùng nhau chung tay tạo ra càng nhiều thay đổi càng tốt.

Và tất nhiên, khi nói đến những món đồ điện tử rẻ một cách giả tạo, cùng với rác thải điện tử đang giết dần con người vì quá độc hại — chúng ta muốn giảm bớt sự lệ thuộc vào chúng. Chúng ta muốn thực hành những mô hình như quán sửa đồ cộng đồng (repair café), hay trao đổi đồ cũ, học cách sửa chữa, đồng thời nâng cao nhận thức về việc chính sách của chính phủ đang bất công một cách đáng lên án. Ngày xưa, bà của chúng ta đã có tủ lạnh, đã có ô tô — có rất nhiều sản phẩm công nghiệp bền đến cả trăm năm hoặc hơn. Còn bây giờ, đồ đạc được sản xuất ra để hỏng ngày càng nhanh. Người ta gọi đó là sự lỗi thời được cài đặt sẵn (built-in obsolescence). Và tôi nghĩ hầu như bất kỳ công chúng cử tri nào cũng sẽ muốn chính phủ ngăn điều đó xảy ra. Vậy nên một khi nhìn vào bức tranh lớn hơn này, có đủ lý do để tin rằng phần đông mọi người sẽ muốn rời khỏi hệ thống ấy.

Hỏi & Đáp 2 — Những bất đồng trong nội bộ phong trào

[Điều phối – Vcil]: Liệu có mâu thuẫn hay bất đồng nào giữa những người theo đuổi phong trào địa phương hoá không?

[Helena]: À, có những người không muốn dùng đến chữ "địa phương hoá", dù thứ họ đang cổ vũ thực chất chính là địa phương hoá. Một số người giờ thích dùng ngôn ngữ của chủ nghĩa vùng sinh thái (bioregionalism) hơn — và chúng tôi cảm thấy điều này cũng đang được các doanh nghiệp lớn khuyến khích, bởi nó nghe rất trí thức và rất "xanh". Bên cạnh đó, ngày càng có nhiều người lo lắng cho công việc của mình, và họ trở nên bài xích những gì thuộc về "xanh". Họ cũng sẽ vui lòng nếu chính phủ hỗ trợ nông dân và doanh nghiệp địa phương của họ — và tôi nghĩ điều đó đúng ở khắp nơi trên thế giới. Nhưng đáng tiếc, một phần trong các think tank của giới tập đoàn lại tung ra thông điệp rằng địa phương hoá là tư tưởng cánh hữu, hoặc khép kín và ích kỷ, và rất nhiều nhà hoạt động cũng tin vào điều đó.

Nên tôi không nghĩ — khi bạn nói "những người theo phong trào địa phương hoá", thì không, trong nội bộ nhóm ấy không có bất đồng. Nhưng có rất nhiều người đang làm những việc thực chất là địa phương hoá, mà lại gọi nó bằng tên khác, chẳng hạn như nông nghiệp tái sinh (regenerative agriculture), thay vì gọi là một phần của nền kinh tế thực phẩm địa phương — hay nông nghiệp trường tồn (permaculture), hay canh tác đa dạng. Có những người dùng chữ "vùng sinh thái"; người khác lại dùng ngôn ngữ của phong trào chuyển tiếp (transition), hay giảm tăng trưởng (degrowth), hay kinh tế bánh vòng (doughnut economy). Và khi bạn nhìn kỹ vào việc họ đang làm, phần lớn hoá ra cũng chính là địa phương hoá. Nhưng theo tôi hiểu, họ chưa nghiên cứu về hệ thống toàn cầu, nên họ chưa thật sự rõ ràng về nhu cầu phải đi theo hướng ngược lại. Họ chưa nghiên cứu hệ thống toàn cầu từ chính trải nghiệm mang tính toàn cầu. Chỉ khi bạn nhìn thấy ở khắp mọi nơi — từ Việt Nam đến Brazil, đến Thuỵ Điển, đến Mỹ — rằng cái toàn cầu đang phá huỷ các nền kinh tế địa phương, thì điều đó mới trở nên thật rõ ràng.

Hỏi & Đáp 3 — Địa phương hoá có phải là một đặc quyền? (Mùa đông ở Bắc Âu)

[Người tham dự]: Chào cô, và cảm ơn cô về những chia sẻ tuyệt vời về địa phương hoá. Em có một câu hỏi: em cũng ý thức được rằng khả năng sống theo hướng địa phương hoá cũng là một đặc quyền, bởi có những vùng không thể trồng trọt quanh năm vì thời tiết hay các yếu tố khác. Ví dụ, ở Bắc Âu mùa đông kéo dài rất lâu — như ở Thuỵ Điển chẳng hạn. Vậy thì địa phương hoá làm sao vận hành được vào mùa đông ở đó? Bởi có lẽ phần lớn sản phẩm ở đó đến từ Tây Ban Nha, hoặc từ các nước Nam Âu.

[Helena]: Ừ, câu hỏi rất hay. Ở những vùng khí hậu lạnh này, bạn sẽ ngạc nhiên khi biết ngày xưa người ta có thể dự trữ được nhiều đến mức nào để dùng suốt cả mùa đông, nhờ cách bảo quản đúng đắn. Rất nhiều loại như khoai tây, củ dền, cà rốt có thể giữ được, đôi khi là suốt cả năm — ở Ladakh cũng vậy. Chúng có thể được bảo quản khá dễ dàng, nhưng một lần nữa, bạn cần đến một hệ thống mang tính địa phương và quãng đường vận chuyển ngắn hơn.

Ở Minnesota, nước Mỹ, cũng từng có những nhà hàng dùng thực phẩm địa phương, nơi mà vào mùa đông bạn sẽ được ăn các loại củ quả với thịt, hoặc trứng và các sản phẩm từ động vật, đồng thời tận dụng thêm vài nhà kính — không phải kiểu nhà kính phục vụ nền kinh tế toàn cầu hiện nay. Ở miền nam Tây Ban Nha chẳng hạn, nhà kính phủ kín cả một vùng, xuất khẩu hàng đi khắp thế giới. Nhưng khi bạn có những nhà kính phục vụ thị trường địa phương, chúng rất thân thiện với sinh thái. Chúng cũng có thể lắp cửa kính. Và bạn sẽ ngạc nhiên trước lượng thực phẩm mà mình có thể sản xuất và dự trữ ngay tại địa phương — nhiều hơn rất, rất nhiều so với bạn tưởng.

Rồi đến chuyện xuất nhập khẩu — chẳng có lý do gì để nói rằng địa phương hoá đồng nghĩa với không còn giao thương. Giao thương vốn là một phần của các nền kinh tế từ hàng nghìn năm trước. Nhưng nhìn chung, một cách khôn ngoan, con người không lệ thuộc vào những thứ đến từ nơi cách xa hàng nghìn dặm mà lại thiết yếu cho sự sống còn của mình. Nên giao thương thường chỉ bao gồm những thứ mang tính xa xỉ hơn, hay những mặt hàng như cà phê, trà, gia vị, dược liệu — những thứ có thể vận chuyển chậm rãi, chẳng hạn bằng tàu thuyền. Và nếu trong tương lai — ai biết được chúng ta sẽ tiến tới địa phương hoá nhanh đến đâu — vẫn sẽ có những thứ được vận chuyển nhanh hơn bằng đường hàng không, hay gì đó. Trong bất kỳ nền kinh tế lành mạnh nào, nơi con người quan tâm đến sức khoẻ của con người và hành tinh, một món hàng được chở bằng máy bay từ nửa vòng trái đất sẽ phải đắt hơn một món được vận chuyển từ nơi cách đó 10 hay 50 dặm. Nên trong một nền kinh tế công bằng — công bằng với con người trên khắp thế giới và biết quan tâm đến tính bền vững — việc được ăn dâu tây giữa mùa đông ở Bắc Âu có thể là một thứ xa xỉ mà thi thoảng người ta muốn thưởng thức, nhưng nó sẽ đắt hơn đáng kể so với một sản phẩm địa phương.

Hỏi & Đáp 4 — Giáo dục và thay đổi thói quen

[Người tham dự – Wing]: Chào cô, em là Wing. Rất vui được gặp cô. Em có câu hỏi xoay quanh việc thay đổi thói quen thông qua giáo dục. Trong những năm làm công tác giáo dục, cô đã dùng những nghi thức hay hoạt động nào để bắt đầu thay đổi thói quen của mọi người?

[Helena]: À, hiện nay nhiều người đang nói rằng con người không học được từ thông tin. Tôi không đồng ý với điều đó. Cái tôi thấy là mọi người đang tiếp nhận những thông tin rất hẹp, rất kỹ thuật, và một lần nữa, những thông tin ấy đang bị các lợi ích của giới tập đoàn chi phối. Những thông tin mà chúng tôi chia sẻ — về việc chính phủ đang trợ cấp cho các tập đoàn và trừng phạt các doanh nghiệp địa phương ra sao — lại là loại thông tin mà mọi người muốn biết, và nó sẽ khiến họ mong muốn thay đổi.

Nên giáo dục không nhất thiết chỉ là trải nghiệm hay kể chuyện. Chúng ta rất khó tự mình trải nghiệm những gì mà hệ thống toàn cầu đang gây ra trên phạm vi toàn cầu, và cũng rất khó truyền đạt điều đó bằng cách nào khác ngoài ngôn từ — và vâng, thêm một ít hình ảnh. Nhưng hãy cảnh giác với luận điệu tuyên truyền cho rằng con người không học được từ thông tin. Hãy nghĩ xem đó là loại thông tin gì. Và cũng hãy nhớ rằng phần lớn thông tin được chia sẻ, như tôi đã nói, quá hẹp, quá kỹ thuật, và không cho thấy mối liên hệ giữa những lựa chọn của chúng ta với ý nghĩa của chúng đối với sức khoẻ và hạnh phúc của chính mình — cả sức khoẻ tinh thần lẫn thể chất. Nên một khi chúng ta bắt đầu trình bày bức tranh lớn hơn về các mối liên hệ, và về việc chúng tác động đến tất cả chúng ta ra sao, tôi nghĩ mọi người sẽ thấy hứng thú muốn tìm hiểu.

Hỏi & Đáp 5 — Điện thoại, internet và công nghệ trong địa phương hoá

[Người tham dự]: Chào cô. Cảm ơn cô đã chia sẻ kiến thức. Câu hỏi của em là: trong bức tranh địa phương hoá mà cô nói đến, liệu điện thoại, laptop, internet và những thứ tương tự có còn tồn tại không, và chúng ta có còn được dùng chúng không? Đó là câu hỏi đầu tiên.

[Helena]: Ừ, câu hỏi rất hay, cảm ơn em. Có chứ. Trước hết, ở thời điểm hiện tại, rõ ràng chúng ta cần dùng internet, thậm chí cả điện thoại di động, để chia sẻ chính những thông tin này. Nên chúng ta phải phân biệt giữa việc chúng ta đang sử dụng những công nghệ này, với việc nói rằng chúng là thứ thiết yếu cho một đời sống tốt đẹp trong tương lai.

Điều tôi nhận thấy bây giờ là ở hầu hết mọi nền văn hoá nơi con người đã trở nên quá lệ thuộc vào màn hình, họ đều đang muốn dành ít thời gian hơn cho màn hình. Họ thật sự muốn có nhiều thời gian hơn ở giữa thiên nhiên. Nên tôi nghĩ trong tương lai, một khi bắt đầu nhìn vào bức tranh lớn hơn, chúng ta sẽ muốn bớt lệ thuộc vào những công nghệ này. Chúng ta sẽ muốn được làm việc và ra ngoài thiên nhiên nhiều hơn, được kết nối trực tiếp mặt đối mặt với người khác nhiều hơn. Bằng chứng giờ đã quá rõ ràng: tổn hại từ việc thiếu kết nối mặt đối mặt trực tiếp với con người đang gây ra những vấn đề khổng lồ về nghiện ngập, trầm cảm, thậm chí tự tử ở người trẻ. Nên chúng ta sẽ muốn thoát khỏi sự lệ thuộc ấy. Và đó cũng là lý do vì sao chúng ta không muốn AI trở thành một phần nền tảng của tiến trình chia tách này.

Tôi không rõ ở Việt Nam các bạn có gặp cảnh này không, nhưng ở châu Âu thì thật sự bực bội: nếu bạn thử gọi điện cho một doanh nghiệp lớn hay một cơ quan nhà nước, bạn sẽ ngồi hàng giờ để rồi nói chuyện với mấy con robot. Bạn chẳng gặp được một con người thật nào cả. Chỉ có tiếng nhạc chờ, hoặc bạn phải đợi mãi, đợi mãi, và nếu có may mắn gặp được một người thật, thì họ giờ cũng bị khoá chặt trong một hệ thống chuẩn hoá đến mức chẳng thể nào thấu hiểu hoàn cảnh riêng của bạn. Nên càng lệ thuộc vào những hệ thống công nghệ ấy — mà internet cũng chính là một trong số đó — chúng ta càng bị phi nhân hoá, và càng khó để những hoàn cảnh riêng biệt của mỗi người có được tiếng nói.

Nên tôi nghĩ, với những nhu cầu kinh tế thường ngày, những nhu cầu hằng ngày của mình, chúng ta sẽ muốn dùng chúng ít đi. Nhưng xét về tình trạng khẩn cấp khí hậu, hay việc cứu trợ con người trong thảm hoạ, chúng ta cũng cần đến khả năng liên lạc nhanh chóng. Nên tôi tin rằng một phần hạ tầng đó vẫn sẽ còn. Nhưng tôi nghĩ chúng ta sẽ ngày càng muốn bớt lệ thuộc vào nó, và muốn có nhiều sự tương tác ở quy mô con người, trực tiếp hơn, cho phần lớn các nhu cầu của mình.

[Người tham dự]: Nhưng liệu đây chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp hướng tới một tương lai không còn dùng đến chúng nữa? Hay là — vì em không chắc lắm, em cũng không rành mấy chuyện này — nhưng địa phương hoá liệu có còn sản xuất được các thiết bị công nghệ như thế này không?

[Helena]: Ừ. Em thấy đấy, không phải toàn cầu hoá mới sản xuất ra các thiết bị công nghệ. Nên chúng ta phải hiểu rằng — mọi người thường nghĩ rằng nếu không có các tập đoàn điện thoại toàn cầu thì ta sẽ chẳng có điện thoại di động, hay gần như bất kỳ sản phẩm công nghiệp nào. Điều đó không đúng. Cái chúng ta đang nói ở đây là việc doanh nghiệp lớn phải chịu những luật lệ do xã hội đặt ra. Những luật lệ giới hạn khả năng trục lợi của họ, giới hạn quyền lực của họ đối với chính phủ. Em thấy đấy, giờ họ còn kiện cả chính phủ — lôi chính phủ ra toà nếu chính phủ làm bất cứ điều gì đe doạ đến lợi nhuận của họ. Vậy là chúng ta đang bị cai trị bởi một nền kinh tế sòng bạc mù quáng. Nó nguy hiểm vô cùng. Đó là lý do mỗi ngày lại có thêm chiến tranh, thêm xung đột, thêm những điều điên rồ.

Chính vì thế — câu trả lời là để mỗi doanh nghiệp thuộc về một quốc gia. Đó cũng là phần cốt lõi của tính "địa phương": mỗi doanh nghiệp đều phải thuộc về một nơi chốn, và tuân theo những luật lệ dân chủ dành cho kinh doanh. Khi ấy, họ vẫn có thể tham gia vào lĩnh vực công nghệ, vẫn có thể hợp tác với các doanh nghiệp ở phía bên kia thế giới — nhưng một lần nữa, dưới sự giám sát dân chủ, để ưu tiên phúc lợi của con người và sinh thái hơn là lợi nhuận. Nên chẳng cần thiết phải cho phép một doanh nghiệp tự do di chuyển khắp nơi, không bao giờ đóng thuế, và kiện ngược chính phủ, thì mới có được công nghệ.

Nhưng có lẽ những công nghệ mà chúng ta đang có — như internet, điện thoại di động và AI — sẽ không được phát triển ra nếu doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm giải trình một cách dân chủ. Điều này cũng thật bi kịch, nhưng nó gắn liền với tình báo quân sự và nỗi sợ hãi. Sự leo thang này bắt nguồn từ việc các chính phủ muốn ở thế thượng phong, trong cái mà họ coi là mối đe doạ sinh tử với Trung Quốc và Nga. Vậy là Mỹ, Trung Quốc, Nga cùng lao vào cuộc đua — và chính điều đó đang thúc đẩy sự phát triển công nghệ cao. Đây cũng là một chuyện khác mà chúng ta cần phải bàn đến. Và đặc biệt, cần có một tiếng nói đủ lớn để nước Mỹ nghe được rằng nếu họ muốn chìa tay ra để hoà hoãn, thì gần như chắc chắn các nước kia cũng sẽ đồng ý một lệnh tạm dừng, để không tiếp tục sự leo thang này nữa.

[Người tham dự]: Vâng, em cảm ơn cô rất nhiều về câu trả lời. Em có thể hỏi thêm một câu nữa được không ạ?

[Helena]: Được chứ.

Hỏi & Đáp 6 — Con đường ôn hoà liệu có tạo ra thay đổi thật sự?

[Người tham dự]: Em muốn hỏi câu này vì em có đọc một số cuốn sách phần nào ủng hộ ý tưởng về một con đường bạo lực — bởi nhiều thay đổi lớn xảy ra không chỉ qua con đường ôn hoà, mà thường là qua con đường bạo lực. Bởi giới tinh hoa nắm quyền kiểm soát chính phủ, và mọi lợi ích vật chất đều nằm trong tay họ. Còn chúng ta chỉ là những cá nhân nhỏ bé đang cố tạo ra chút thay đổi nào đó. Nhưng nếu họ vẫn còn nắm quyền, thì con đường ôn hoà này liệu có tạo ra được thay đổi thật sự nào không? Hay nó chỉ khiến điều không thể chịu đựng nổi trở nên dễ chịu hơn một chút, để họ cứ tiếp tục ở trong giới tinh hoa và nắm giữ tất cả?

[Helena]: Ừ. Tôi nghĩ điều mấu chốt là phải nhận ra rằng, trước hết, các phong trào của người dân đã từng cùng nhau tạo nên những thay đổi vô cùng lớn lao — dù chỉ với số lượng người ít ỏi, khởi đầu trong những hoàn cảnh tưởng như bất khả thi. Như chế độ nô lệ ở Mỹ chẳng hạn, hay nhiều ví dụ khác. Nhưng cũng đúng là ngày nay chúng ta đang có một hệ thống gạt ra bên lề và gây hại cho đúng nghĩa 99%. Bạn biết đấy, 1% dân số toàn cầu sẽ là 80 triệu người. Đây không phải là một hệ thống đang mang lại lợi ích cho 80 triệu người. Hệ thống này đang được thúc đẩy và duy trì bởi có lẽ chỉ vài triệu người — chứ chẳng hề gần con số 80 triệu. Nên nó thật điên rồ.

Bạn thấy đấy, nếu ta nghĩ rằng mình không có sức mạnh — thì phải nhớ rằng hệ thống này không thể nào vận hành được nếu không có sự thiếu hiểu biết của chính chúng ta, và thậm chí, tôi phải nói rằng, cả sự thiếu hiểu biết của các nhà lãnh đạo chính trị lẫn phần đông những người trong các tập đoàn. Đa số họ không hiểu những mối liên hệ này khớp với nhau ra sao. Họ thật sự tin rằng quá tải dân số mới là nguyên nhân dẫn đến vấn đề này, rằng họ buộc phải có những trang trại lớn hơn, phải có nhiều công nghệ hơn. Người ta tin vào điều đó. Cá nhân tôi quen biết những nhà khoa học đang miệt mài phát triển thêm nhiều kỹ thuật biến đổi gen để "nuôi sống thế giới", mà họ chưa từng được tiếp cận sự thật về chuyện đó. Nên vấn đề là: sự thật đã bị chôn vùi qua rất nhiều thế hệ.

Và để đào nó lên — đây cũng chính là lý do vì sao một đất nước như Việt Nam lại quan trọng đến vậy. Bởi các bạn vẫn còn giữ được nhiều truyền thống hơn. Các bạn vẫn còn nhiều hiểu biết về một lối sống gắn với đất đai và tính liên kết hơn so với chúng tôi ở châu Âu hay Bắc Mỹ. Và đó là lý do vì sao việc các bạn thức tỉnh và cùng tham gia lại quan trọng đến thế, thật sự quan trọng.

Nên một phần, chúng ta phải nghĩ về cách làm sao để lôi kéo được nhiều người hơn về phía mình. Ngay cả ở đây, với phong trào Extinction Rebellion (Nổi loạn chống Tuyệt chủng) — họ không hẳn là bạo lực, nhưng không biết bạn có nghe không, họ nằm ra giữa đường chặn xe cộ để gây chú ý trên báo chí. Họ chặn những người đang cố đi làm, đi kiếm tiền trả nợ nhà, trả học phí cho con. Và điều đó chỉ khiến ngày càng nhiều người quay lưng với phong trào. Nên chúng ta phải mời gọi mọi người tham gia. Chúng ta phải mời gọi — bằng cả tiếng hát và âm nhạc, và bằng những điều tích cực mà ta có thể cùng nhau gặt hái.

Và cơn giận nhắm vào một giới tinh hoa cụ thể nào đó — cái giới tinh hoa mà bạn nhìn thấy, giới tinh hoa bạn thấy ngay tại đất nước mình, không phải là vấn đề. Chính cái giới tinh hoa mà bạn không nhìn thấy mới là vấn đề lớn hơn. Và đó là lý do vì sao, kể cả khi làm việc với giới tinh hoa ngay tại nước mình, chúng ta vẫn có thể khơi dậy trong mọi người tiếng nói rằng: "Khoan đã. Chuyện này phải dừng lại. Nó đang leo thang quá nhanh vì công nghệ. Sự leo thang này rất nhanh, và đang đi sai hướng." Tôi hy vọng điều đó dễ hiểu.

Hỏi & Đáp 7 — Câu hỏi cuối: Kết nối con người hay kết nối lương thực?

[Điều phối – Vcil]: Chúng ta còn một câu hỏi nữa — cô có muốn trả lời không ạ? Cô có thể trả lời ngắn gọn được không? "Giữa kết nối con người và kết nối lương thực, cái nào quan trọng hơn để bắt đầu?"

[Helena]: Khi bạn hỏi cái nào quan trọng hơn — tôi xin nói rằng, xét đến cùng, đối với nhân loại, quan trọng nhất chính là kết nối giữa con người với nhau. Mỗi đứa trẻ sinh ra đều cần đến sự chăm sóc và yêu thương mà chúng ta đã có trong suốt chiều dài lịch sử. Chúng ta sẽ chẳng bao giờ tiến hoá được nếu thiếu đi điều đó. Nên đó là điều mang tính nền tảng hơn.

Nhưng ngay lúc này, ở vị trí hiện tại của mình, có lẽ sẽ dễ dàng hơn nếu bắt đầu từ kết nối lương thực. Đó, tôi nghĩ, là phong trào đang có đà lan toả, và cũng là điều trọng tâm nhất xét về mặt kinh tế. Hãy nhớ: nếu có khủng hoảng, đường sá có thể bị chặn, và các siêu thị sẽ trống rỗng chỉ trong ba ngày — và điều này đúng ở khắp nơi trên thế giới. Nên việc khôi phục nguồn lương thực ngay tại nơi con người sinh sống, xét về sự sống còn, quan trọng vô cùng. Mà đây cũng là một phong trào đầy niềm vui. Nó mang lại rất nhiều lợi ích ngay tức thì. Đó là một chiến lược cùng thắng — thắng cho tất cả. Nên tôi tha thiết mong các bạn hãy tập trung vào điều đó.

Một nghịch lý của thời đại chúng ta

Chưa bao giờ con người sản xuất ra nhiều của cải đến thế, kết nối với nhau nhanh đến thế, và cũng… mệt mỏi đến thế. Nền kinh tế toàn cầu hứa hẹn sự sung túc cho tất cả, nhưng đổi lại là những cuộc khủng hoảng nối tiếp nhau: biến đổi khí hậu, môi trường kiệt quệ, khoảng cách giàu nghèo ngày một xa, và một hệ thống lương thực mà phần lớn lợi nhuận chảy về tay vài tập đoàn khổng lồ thay vì người nông dân. Khi mọi thứ được kéo lên quy mô càng lúc càng lớn, quyền quyết định về đời sống của chính mình lại càng tuột khỏi tay những cộng đồng bình thường.

Và nó chạm tới từng người trong chúng ta

Nghịch lý vĩ mô ấy không ở đâu xa — nó hiện diện ngay trong đời sống thường ngày. Đó là cảm giác phải chạy nhanh hơn mỗi năm chỉ để đứng yên một chỗ. Là bữa cơm với thực phẩm đi qua hàng nghìn cây số mà ta chẳng biết ai đã trồng. Là sự cô đơn giữa một thành phố đông người, khi những kết nối mặt-đối-mặt dần được thay bằng màn hình, và giá trị bản thân bị đo bằng tiêu dùng. Càng "phát triển", nhiều người lại càng thấy mình mất kết nối, và khó gọi tên điều gì thật sự làm nên một đời sống đủ đầy.

Một câu trả lời nhẹ nhàng mà sâu sắc: địa phương hoá

Sẽ ra sao nếu hướng đi không nằm ở chỗ "lớn hơn nữa", mà ở chỗ đưa nền kinh tế trở về với quy mô con người? Đó chính là tinh thần của địa phương hoá (localization). Đó không phải quay lưng với thế giới, phản đối công nghệ hay trở về quá khứ, mà là ưu tiên sản xuất những gì cộng đồng cần ngay tại chỗ, để đồng tiền mình tiêu được quay vòng trong chính địa phương thay vì chảy đi xa. Khi điều đó xảy ra, người nông dân gần bên được trả công xứng đáng, công việc trở nên có ý nghĩa, môi trường bớt gánh nặng, và con người tìm lại được cảm giác thuộc về. Nói cách khác — nhận ra rằng "kho báu" quý giá nhất thường đã sẵn có ngay nơi mình sống.

Người đã dành cả đời thúc đẩy địa phương hoá

Năm 1975, một nhà ngôn ngữ học người Thụy Điển — từng theo học cùng Noam Chomsky tại MIT — đến sống giữa người dân Ladakh, vùng "Tiểu Tây Tạng" trên dãy Himalaya. Bà trở thành người ngoại quốc đầu tiên thời hiện đại nói thạo tiếng nơi đây, và chứng kiến một cộng đồng gần như không dùng đến tiền nhưng tràn đầy niềm vui, gắn bó và phẩm giá — cho đến khi nền kinh tế toàn cầu ùa vào và mang theo cả sự cô đơn lẫn cạnh tranh.

Người phụ nữ ấy là Helena Norberg-Hodge. Trải nghiệm Ladakh đã được thể hiện qua cuốn Ancient Futures — được dịch ra hơn 40 thứ tiếng, bán nửa triệu bản.

Helena là nhà sáng lập, giám đốc tổ chức quốc tế Local Futures, người triệu tập Ngày Địa phương hoá Thế giới (World Localization Day), và là một trong những người tiên phong của phong trào "nền kinh tế mới". Bà sản xuất bộ phim tài liệu đoạt giải The Economics of Happiness, viết cuốn Local is Our Future: Steps to an Economics of Happiness, đồng sáng lập International Forum on Globalization và Global Ecovillage Network.

Bà cũng là người nhận giải Right Livelihood Award (thường gọi là "Nobel thay thế") và Goi Peace Prize cho những đóng góp suốt đời nhằm gìn giữ đa dạng văn hoá, sinh thái và củng cố các cộng đồng địa phương trên toàn thế giới.

Bạn sẽ nghe gì tại Nếp Mới #15?

- Câu chuyện Ladakh và bài học còn nguyên giá trị cho Việt Nam hôm nay

- "Kinh tế của hạnh phúc" là gì, và vì sao nó khác với thước đo tăng trưởng quen thuộc

- Vì sao địa phương hoá có thể cùng lúc chạm tới các khủng hoảng kinh tế, môi trường và tinh thần

- Những bước đầu tiên mỗi người có thể bắt đầu, ngay trong đời sống hằng ngày

- Cùng tham gia và đối thoại cùng Helena Norberg-Hodge

Thông tin buổi Nếp Mới #15

Thời gian: 19:30, tối Thứ Năm 25.06.2026

Hình thức: Online qua Zoom

Diễn giả: Helena Norberg-Hodge — Nhà sáng lập Local Futures

Hẹn gặp bạn ở Nếp Mới #15!

Đọc bài recap

‍Để xem lại bài recap chi tiết, bạn vui lòng đăng nhập Hội viên

Các dự án liên quan bài viết

Nếp Mới sẽ mời những học giả, chuyên gia, những người có kinh nghiệm thực tiễn để chia sẻ về những chủ đề thiết yếu, gần gũi trong cuộc sống