You are using the member interface.
Log out of the member interface →
Blog

Nếp mới #7: Từ GDP đến GPI: Khi phát triển kinh tế không cần phải đánh đổi hạnh phúc và sinh thái

Thông tin cho hội viên

Thông tin dưới đây chỉ dành riêng cho Hội viên Vcil
Để đảm bảo quyền lợi của bạn cũng như cộng đồng Hội viên Vcil, mong bạn đừng chia sẻ thông tin này nhé!


Bạn có thể chia sẻ thông tin về dự án dành cho công chúng bằng cách sao chép link này:

Recap Nếp Mới #7 với bác Tashi

Đời sống của chúng ta xét về mọi mặt, đều có sự tham dự của kinh tế. Cho dù chúng ta làm nông nghiệp, làm giáo dục, y tế, tất cả đều có mối liên hệ mật thiết với nền kinh tế. Tuy nhiên, nhiều người chỉ mới nghe đến “kinh tế học” là đã cảm thấy hoa mắt, chóng mặt, bối rối, khó hiểu. Kinh tế học dường như là một chủ đề ngoài tầm với với nhiều người, chỉ những chuyên gia có sự hiểu biết sâu sắc mới có thể thẩm thấu được chúng. Và kinh tế học trở thành lãnh địa riêng của những nhà kinh tế học - thứ đang vận hành toàn bộ cuộc sống của chúng ta. Những nhà kinh tế học do đó được xem như là vị vua của vũ trụ này, và có vẻ như có năng lực điều hành toàn bộ hệ thống kinh tế, chính trị vậy. Do đó, bắt đầu buổi trò chuyện này, bác Tashi sẽ khởi đầu bằng những thứ căn bản và nền tảng về kinh tế học.

Hiện tại cộng đồng của mình đang làm việc liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, từ nông nghiệp hữu cơ cho đến tư duy lại về giáo dục. Tất cả lĩnh vực này đều liên hệ mật thiết với kinh tế học. Có những lí do rất rõ ràng để khiến cho những công việc chúng ta đang làm, dù mang nhiều giá trị và ý nghĩa, nhưng vẫn chỉ là thiểu số và không được phổ biến trong xã hội, thậm chí trở thành nhóm thiểu số, và không thể trở thành những lựa chọn và thực hành chính thống. Lí do nằm ở cách nền kinh tế hiện tại đang vận hành, và chúng ta cần phải hiểu về hệ thống này trước khi tìm hiểu về những công việc mà bác Tashi đã và đang làm trong 30 năm qua để thấy chúng thật sự cần thiết.

Cộng đồng chúng ta hiện diện cùng nhau để cùng kiến tạo nên một cộng đồng thật sự đóng góp cho sự tồn tại của giống loài mình và cả hành tinh này. Chúng ta đang sống trong một hệ thống đang dẫn dắt chúng ta đến sự huỷ diệt. Và đó là hướng đi mà nhân loại đang tự tạo ra. Nếu chúng ta muốn tạo nên một cộng đồng tạo ra một hướng đi khác, nuôi dưỡng sự sống và hạnh phúc của cộng đồng và hành tinh một cách bền vững, việc thấu hiểu hệ thống hiện hành là vô cùng cần thiết. Chúng ta cần biết những nguyên tắc, những sự thật căn bản vận hành nên hệ thống kinh tế xã hội hiện tại.

Để đo lường độ lớn của nền kinh tế, các nhà kinh tế học đã sử dụng chỉ số Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product - GDP), và đây được xem là chỉ số quan trọng bậc nhất lịch sử nhân loại. GDP đơn giản là tổng toàn bộ các hàng hoá được sản xuất, hoặc được tính dựa vào tổng sản lượng hàng hoá chúng ta tiêu thụ. Dù bạn tính chỉ số GDP dựa vào lượng hàng hoá sản xuất hoặc tiêu thụ thì chúng đều phải có kết quả bằng nhau. Nói cách khác, GDP đo lường độ lớn của nền kinh tế thị trường của một quốc gia.

Cũng cần phải làm rõ từ đầu rằng bản thân chỉ số GDP không có vấn đề gì hết, nếu chúng ta sử dụng chỉ số này vào mục đích nó được tạo ra, đó là đo lường lượng sản xuất và lượng tiêu thụ của một nền kinh tế. Chỉ số này rất hữu dụng trong việc cho thấy bức tranh lớn của một nền kinh tế thông qua làm rõ được ngành kinh tế nào đang phát triển, và ngành kinh tế nào đang gặp khó khăn. Dựa vào thông tin này, những người làm chính sách có thể đưa ra những sách lược phù hợp để điều tiết nền kinh tế.

Điều đáng tiếc là GDP lại được sử dụng theo cách mà người tạo ra nó không hề tính đến. Ban đầu, chỉ số này được tạo ra để đo lường độ lớn của một nền kinh tế, và nó được sử dụng phổ biến kể từ thế chiến thứ hai, với mục đích xem xét liệu các quốc gia như nước Anh có sản xuất đủ để phục vụ cho chiến tranh hay không.

Vấn đề bắt đầu nảy sinh khi các nhà hoạch định chính sách và các nhà kinh tế học tin rằng mục đích chính của nền kinh tế đó là khiến chỉ số GDP phải tăng lên liên tục. Niềm tin vào việc phải chỉ số này tăng lên mới là điều tạo nên vấn đề thực sự.

Tác giả chính tạo nên chỉ số GDP là Simon Kuznets, và chính ông cũng đã được trao giải Nobel Kinh tế vì những đóng góp to lớn của ông trong kinh tế học. Và chính ông, ngay từ những năm 30 của thế kỉ 19 đã cảnh báo rằng đừng bao giờ sử dụng chỉ số này để đo lường sức khoẻ của một quốc gia. Thay vào đó, điều cần quan tâm khi đo lường sức khoẻ của một nền kinh tế là hãy nhìn vào bức tranh chung, lĩnh vực nào đang tăng trưởng hay đang suy giảm; chứ không phải là tăng trưởng bao nhiêu, nền kinh tế đang sản xuất hay tiêu thụ bao nhiêu. Simon Kuznets đã nhắc nhở như vậy từ trước rồi, nhưng không ai lắng nghe ông ấy cả.

Tôi muốn đi một cách tổng qua như vậy, và nhấn mạnh rõ vai trò, ý nghĩa của GDP và bạn cần hiểu rõ điều này. Khi đã nhận ra được vấn đề rồi, ta mới biết được những giải pháp thay thế là gì. Chúng ta phải hiểu nền kinh tế dựa vào tăng trưởng có nghĩa là gì, rồi sau đó ta mới biết cần làm gì.

Khi tạo ra chỉ số GDP và đưa ra lời nhắc nhở như trên, vì Simon Kuznets biết rằng bất cứ điều gì cũng đều có thể làm gia tăng chỉ số GDP. Ví dụ, chiến tranh càng nhiều thì chỉ số GDP càng tăng, và do đó mọi người tin rằng nền kinh tế đang tiến triển tốt. Cụ thể, vào tháng 10/2023, cổ phiếu của các công ty như Lockheed Martin, General Motors, General Electrics tăng trưởng chóng mặt vì có một cuộc chiến khác diễn ra ở Trung Đông, nhờ vậy giá cổ phiếu của các doanh nghiệp này được tăng nóng. Đơn giản vì nhu cầu phục vụ chiến tranh dẫn đến việc chế tạo nhiều máy móc, thiết bị hơn, và do đó nền kinh tế cũng được tăng trưởng theo. Rồi sau khi cuộc chiến kết thúc, những vùng đất bị chiến tranh tàn phá đều phải đi vào giai đoạn tái thiết. Điều này một lần nữa lại khiến nền kinh tế tăng trưởng. Câu chuyện tương tự cũng diễn ra với các thảm hoạ tự nhiên. Khi một khu vực chịu ảnh hưởng của thiên tai do hậu quả của biến đổi khí hậu, chi phí tái thiết mọi thứ cũng sẽ khiến nền kinh tế tăng trưởng, bất chấp đó là một tiến trình gây ra nhiều mất mát.

Tương tự, sự gia tăng của việc hút thuốc lá, tiêu thụ thực phẩm rác (junk food) khiến nhiều người bị bệnh, hay càng nhiều cuộc tranh chấp, kiện tụng diễn ra, nhiều luật sự được thuê hơn… tất cả đều khiến GDP tăng trưởng.

Câu hỏi đặt ra ở đây là, liệu GDP tăng thì cuộc sống được cải thiện chăng?

Càng nhiều tội ác hay hành vi phạm pháp được thực hiện, càng nhiều người bị bắt giữ, nhiều nhà tù cần được xây lên, nhiều phòng xử án được thiết lập, nhân sự cảnh sát càng phải được gia tăng. Ngay cả việc này cũng khiến nền kinh tế phát triển. Người dân càng bị bệnh, chi phí bỏ ra để xây bệnh viện, sản xuất thuốc chữa bệnh, chi trả lương cho bác sĩ, lần nữa, lại khiến nền kinh tế tăng trưởng. Một đất nước có những người dân khoẻ mạnh không giúp cho nền kinh tế phát triển.

Chính Simon Kuznets đã nhìn thấy được vấn đề của chỉ số GDP, nên ông đã cảnh báo không được sử dụng GDP ngoài mục đích đo lường độ lớn của nền kinh tế. GDP về căn bản không cho thấy sự khác biệt gì giữa việc xây thêm trường học với chế tạo quả bom nguyên tử.

Điều cốt lõi đó là chúng ta cần đặt câu hỏi về cái gì đang tăng trưởng thì lại bị bỏ qua bởi các nhà hoạch định chính và các nhà kinh tế học. Điều khó hiểu là họ sẽ ăn mừng nếu nền kinh tế tăng trưởng tốt, còn nếu không, họ sẽ tìm cách thúc đẩy nó tăng trưởng nhiều hơn.

Thực tế cho thấy rằng càng đốt nhiều nhiên liệu hoá thạch, càng nhiều khí nhà kính thải ra và điều đó có nghĩa là GDP sẽ tăng lên. Đó là lí do khiến cho những hành động cắt giảm khí thải nhà kính hay thực hiện các hành động chống biến đổi khí hậu trở nên không mấy mặn mà với các nhà hoạch định chính sách.

Khi nói đến các mối quan tâm liên quan đến hệ sinh thái, vấn đề càng trầm trọng hơn. Việc chặt phá rừng, khai thác tận diệt đại dương đều là những hành động “tuyệt vời” để gia tăng GDP. Bởi vì GDP chỉ tính những gì có thể trao đổi được thành tiền. Khi những khu rừng bị biến thành những sản phẩm làm từ gỗ và đưa vào thị trường để trao đổi, nền kinh tế tăng trưởng. Một khu rừng còn nguyên vẹn không có ý nghĩa gì đối với GDP.

Hay Việt Nam là một quốc gia có ngành đánh bắt hải sản phát triển nhờ có đường bờ biển dài. Việt Nam càng bắt nhiều cá, và bán được càng nhiều, nền kinh tế sẽ tiếp tục tăng.

Tuy nhiên, GDP lại không hề tính đến hệ quả của các hành động khai thác thiếu bền vững kể trên. Xét ở bất cứ phương diện kinh tế nào, đây là một cách tiếp cận kém kinh tế nhất. Cách tiếp cận này giống như một chủ nhà máy bán đi hết toàn bộ xưởng sản xuất của mình vậy. Sau khi thu về lợi nhuận, người đó ăn mừng vì số tiền vừa kiếm được. Tuy nhiên, anh ta quên mất rằng vào ngày hôm sau, anh ta sẽ không tạo ra thêm được điều để kiếm thu nhập nữa. Đó là những gì chúng ta đang đối xử với những cánh rừng và đại dương quanh mình. GDP chỉ tính đến những gì chúng ta khai thác từ tự nhiên, và nó không tính đến những hệ quả sau đó.

Khi đã hiểu được những thứ căn bản trên rồi, bạn sẽ thấy rõ hơn những gì chỉ số thay thế - Chỉ số Tiến bộ Thực sự (Genuine Progress Index - GPI) đang làm. Chúng ta đã thấy những bất cập khi sử dụng GDP như một thước đo cho sự tiến bộ, và những giải pháp mà GPI đưa ra để đo lường sự tiến bộ một cách toàn diện và chính xác hơn.

“Anyone who thinks that you can have infinite growth on a finite planet is either a madman or an economist.” - Sir David Attenborough

Tất cả những gì được nêu ra chỉ là những lẽ thường tình, ai cũng có thể hiểu được. Ai cũng có thể thấy rằng nền tảng vận hành hệ thống kinh tế của chúng ta đang sai lầm như thế nào mà không cần tấm phải có bằng tiến sĩ Harvard.

Thêm một vấn đề của GDP nữa, đó là nó không cho chúng ta biết được ai đang làm nền kinh tế tăng trưởng. Tức là khi người giàu ngày càng giàu hơn thì điều đó cũng giúp GDP tăng lên, bất chấp có những người đang trở nên nghèo đi. Đơn giản GDP là một chỉ số tính dựa trên sự trung bình. Một điều khá nực cười đó là top 10% những người giàu nhất khi gia tăng tài sản đều có thể làm tăng trưởng GDP, bất chấp đa phần dân số còn lại đang nghèo đi. Do đó chỉ số tính trung bình này rất sai lệch. Một hình ảnh tượng trưng cho hình ảnh này đó là bạn có thể đưa cái đầu của mình vào tủ lạnh, còn chân thì để vào cái lò nướng thì nhiệt độ trung bình của bạn vẫn không bị ảnh hưởng gì. Trong tình trạng đó thì sức khoẻ của người nằm tư thế đó thì không liên quan gì đến nó. Và đây là một vấn đề khác của GDP.

Một khía cạnh thiếu sót khác của GDP đó là chúng không tính những công việc mang tính chất tình nguyện. Cho nên những công việc cống hiến phụng sự, tình nguyện theo GDP thì hoàn toàn vô giá trị, vì GDP chỉ tính những gì có thể trao đổi thành tiền. Điều đó có nghĩa là những công việc được thực hiện mà không được trả công, cho dù với mục đích tốt đẹp đều bị GDP bỏ qua. Hệ thống này do đó cực kì bất công và phân biệt với phụ nữ, vì họ là những người làm rất nhiều công việc mà không được trả lương; đó là những công việc như chăm sóc và nuôi dạy con cái - những công việc vô giá trị đối với GDP. Nhưng khi bạn thuê một người trông trẻ và trả lương, GDP liền gia tăng. Nhưng nếu bạn tự trông con mình, điều đó không có giá trị (kinh tế) gì cả. Rồi nếu bạn cưới người giúp việc (và không trả lương nữa), GDP sẽ đi xuống.

Một tồn tại khác cần phải xem xét lại, ví dụ trường hợp Apple khiến điện thoại của bạn hoạt động kém hơn, thúc đẩy bạn thay điện thoại mới nhanh hơn, GDP lúc này lại gia tăng nữa. Điều này có nghĩa là chẳng có nghĩa lí gì khi đầu tư và tạo ra một sản phẩm bền vững dài lâu, vì nó không đóng góp nhiều cho tăng trưởng GDP như cách làm của Apple.

Có thể thấy, GDP hoàn toàn bỏ qua sự phúc lợi của con người, sự bền vững và tái tạo của tự nhiên, tương lai của thế hệ tiếp nối, bỏ quên những công việc phụng sự & tình nguyện hoặc những công việc không lương, thúc đẩy sự bóc lột tự nhiên và khai thác thiếu bền vững, nuôi dưỡng chủ nghĩa tiêu dùng nhanh.

Khi bạn nhìn được bức tranh tổng quan về cách nền kinh tế vận hành, việc tìm kiếm một chỉ số thay thế để đo lường sự tiến bộ là một điều rất rõ ràng và cần thiết. Và ai cũng có thể làm được điều này mà không cần phải sở hữu tấm bằng tiến sĩ Harvard. Đơn giản là chúng ta đo lường những gì quan trọng.

Chỉ số GPI đo lường những điều quan trọng trong cuộc sống chúng ta: đó là sức khoẻ sinh thái, chất lượng không khí, chất lượng nước, phát thải khí nhà kính, tình trạng của các khu rừng, mức độ đánh bắt cá,... Chúng tôi cũng làm công việc đo lường phúc lợi xã hội, sức khoẻ của toàn dân và sự an toàn của các cộng đồng khác nhau. Chúng tôi cũng đo lường sức khỏe của nền kinh tế, nhưng không tính GDP. Chúng tôi đo lường sự an toàn của hệ thống kinh tế, khoảng cách giàu nghèo. Nói tóm lại, GPI có 20 chỉ số đo lường về kinh tế, sinh thái, xã hội, với mục đích đo lường sự tiến bộ một cách toàn diện và dễ hiểu, và do đó cũng chính xác hơn. Đây cũng là lí do GPI được gọi là chỉ số tiến bộ thực sự, vì nó thực sự cung cấp một bức tranh tổng quan về đời sống kinh tế môi trường xã hội.

Khi đã hiểu vấn đề, bạn sẽ hiểu được những giải pháp.

Có thể thấy, chúng ta đã sử dụng chỉ số GDP một cách sai lệch, đó không phải là công cụ phù hợp để đo lường sự tiến bộ. Do đó, giải pháp thay thế để đo lường sự tiến bộ một cách toàn diện và chính xác là điều cần thiết. Đây là yếu tố quan trọng của một thế giới mới mà tất cả chúng ta đều đang muốn xây dựng, và cũng là một thế giới cần được kiến tạo để toàn nhân loại tồn tại được một cách hài hoà với trái đất. Tất cả những gì thành viên trong cộng đồng quan tâm đều là một phần của bức tranh lớn này.

Sẽ không có gì thay đổi, nhà hoạch định chính vẫn sẽ đi con đường sai lạc nếu chúng ta không đo lường sự tiến bộ một cách chính xác.

Vì sự khác biệt trong cách tiếp cận, suy nghĩ và đo lường, những gì bác Tashi và đội ngũ làm vẫn đang nằm ngoài xã hội chính thống. Việc mang những điều thật sự quan trọng với chúng ta vào trọng tâm những cuộc thảo luận kinh tế là điều vô cùng cần thiết. Nếu làm được bước đi nền tảng này, chúng ta sẽ đi đến có đường đúng đắn được thuận lợi trong tương lai.

Về cơ bản, những gì được đo lường sẽ được chú ý, những gì bị bỏ qua sẽ không được các chính sách quan tâm.

Bác Tashi đã làm một thử nghiệm với các sinh viên của mình để kiểm tra luận điểm trên. Lúc còn làm giảng viên đại học, bác có thông báo với các sinh viên rằng họ cần phải nộp một bài báo nghiên cứu vào cuối kì. Sinh viên sẽ tự do trong việc tự quyết định chủ đề, tự nghiên cứu, và tự chủ toàn bộ tiến trình này. Bác cũng nhấn mạnh rằng đây là một báo nghiên cứu cần phải nộp. Và điều này hoàn toàn tự nguyện. Kết quả, vào cuối kì, không ai nộp bài tập này cả.

Vào học kì sau đó, bác thử cách tiếp cận khác. Lần này, bác không trình bày gì về bài báo nghiên cứu hết. Nhưng trong hướng dẫn khoá học, có một thông tin được ghi rõ bài nghiên cứu sẽ chiếm 50% số điểm toàn khoá. Kết quả đó là toàn bộ sinh viên đã nộp bài cho bác.

Thí nghiệm này giúp bác Tashi đưa ra kết luận là những gì được thảo luận, những gì được đo lường sẽ nhận được sự chú ý (và do đó có thể được thực hiện).

Tương tự với các hoạt động và yêu cầu liên quan đến bảo vệ môi trường, nếu những yếu tố về sinh thái không được tính là một phần của sự tiến bộ hay dùng để đo lường, họ sẽ không được xem trọng. Và do đó họ sẽ bị bỏ qua khi các chính sách được thảo luận.

—-

CÂU HỎI VỚI BÁC TASHI

1. Bác có thể chia sẻ những kinh nghiệm làm việc của mình với chính phủ không?

Bác Tashi từng làm việc với chính phủ của ba quốc gia khác nhau để áp dụng cách tiếp cận mới về đo lường sự tiến bộ này vào thực tiễn. Với kinh nghiệm đó, bác hiểu được sâu sắc rằng tại sao bác và cộng sự không tạo ra được thay đổi thực sự nào.

Và GPI không phải là chỉ số đo lường thay thế duy nhất. Bên cạnh đó còn có rất nhiều chỉ số khác do nhiều người phát triển độc lập khác. Tuy nhiên, sau cùng tất cả chúng tôi đều không thực sự tạo ra thay đổi nào trong việc thay thế chỉ số GDP.

Hiện thực trên không phải đến từ việc các chính phủ không đồng tình với những gì bác đề xuất. Khi bác trình bày những con số, dữ liệu, thống kê, những tính toán khoa học, tất cả những nhà hoạch định chính sách đều gật đầu đồng ý mà không chút phản đối nào. Những dữ liệu luôn có sẵn để chúng ta tính toán những gì chúng ta cần, từ phát thải khí nhà kính, thống kê về rừng, ước lượng về sản lượng cá trong đại dương, thậm chí những bằng chứng dịch tễ học cho thấy sự liên kết giữa những yếu tố bên ngoài đến sức khoẻ con người… Nhiều dữ liệu kể trên hoàn toàn không có sẵn hơn 50 năm trước. Nhưng bây giờ chúng có sẵn rồi, nên chúng ta hoàn có đủ bằng chứng khoa học để có thể thiết lập những cách đo lường sự tiến bộ phù hợp.

Bác cũng trình bày các con số và dữ liệu này với các đảng chính trị khác nhau, từ cánh tả, cánh hữu cho đến “cánh giữa”. Tất cả họ đều đồng ý và không phản biện gì với những sự thật khoa học được đưa ra.

Tuy nhiên, sau khi lắng nghe tất cả, họ gật đầu, và rồi mọi thứ vẫn cứ như bình thường. Không có gì diễn ra cả. Và bác Tashi đặt ra một câu hỏi: Tại sao?

Bác từng làm việc với chính phủ Bhutan trong 10 năm. Và đây là những kinh nghiệm và quan sát của bác.

Trước khi đến Bhutan, bác đang làm việc để phát triển và ứng dụng chỉ số GPI ở Canada. Sau khi chính phủ Bhutan biết đến bác, họ đã mời bác đến Bhutan để thiết kế chỉ số riêng của họ, được biết đến với tên gọi Tổng Hạnh phúc Quốc gia (Gross National Happiness - GNH). Ý tưởng ban đầu khá tương đồng với GPI mà bác phát triển. Về cơ bản, Bhutan muốn kết hợp bảo tồn sinh thái, phúc lợi xã hội & bảo tồn văn hoá, phát triển kinh tế bền vững và cơ chế điều hành đất nước hiệu quả với nhau. Đây cũng là bốn trụ cột chính tạo nên triết lý nền tảng cho Tổng Hạnh phúc Quốc gia.

Khi làm việc với chính phủ, bác Tashi nhận thấy rằng ý chí chính trị để thực hiện và ứng dụng GNH rất mạnh mẽ. Năm 2008, vị thủ tướng mới tên là Jigme Y Thinley được bầu cử đã quyết định sẽ biến Bhutan thành quốc gia sử dụng thực phẩm hữu cơ toàn bộ đầu tiên trên thế giới. Tức là, những gì trồng ở Bhutan hoàn toàn sẽ được canh tác theo phương pháp hữu cơ; hễ thấy sản phẩm được sản xuất tại Bhutan, điều đó có nghĩa là nó được sản xuất một cách hữu cơ.

Bên cạnh đó, vị thủ tướng mới này cũng muốn cải tổ toàn bộ hệ thống giáo dục. Ông ấy mong muốn các nguyên tắc về sự bền vững, tôn trọng văn hoá truyền thống, bảo vệ hệ sinh thái, và nhiều trụ cột khác của GNH được ứng dụng vào giáo dục.

Sau cùng, sau một thời gian thực thi, Bhutan mang những thay đổi của mình tới những diễn đàn toàn cầu, cụ thể là Liên Hợp Quốc để chia sẻ những thay đổi này với thế giới. Đương nhiên, Liên Hợp Quốc chưa bao giờ thấy những sáng kiến tuyệt vời như vậy. Do đó, Bhutan cũng đã tổ chức một hội nghị tại Liên Hợp Quốc vào ngày 2 tháng 4 năm 2012 để kêu gọi cho sự dịch chuyển sang một hệ hình kinh tế mới (new economic paradigm).

Thời điểm đó, có hơn 800 người tham dự hội nghị. Họ là những đại diện đến từ khắp nơi trên thế giới. Từ Tổng thống Costa Rica, tới Tổng Thư ký Liên Hợp Quốc - người đã thẳng thắng nhìn nhận rằng “Hệ thống cũ đang đổ vỡ, chúng ta cần một hệ thống mới”, hay Hoàng tử Charles của Anh (nay là đã là Vua của Vương quốc Anh) cũng tham dự và có bài phát biểu khai mạc. Bên cạnh đó còn có những người được trao giải Nobel, các nhà kinh tế học, các vị lãnh tụ tôn giáo từ khắp nơi thế giới.

Hội nghị này được nhiều người xem là “Bretton Woods Mới”. Lí do nó được gọi tên như vậy vì đây có thể được xem là một đánh dấu cho một hệ hình kinh tế mới tiềm năng, có thể thay thế cho hệ thống kinh tế hiện hành. Hệ thống kinh tế thống trị ngày nay được xem là ra đời vào năm 1944 tại Hội nghị Bretton Woods, tổ chức tại bang New Hampshire, Hoa Kì sau khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc. Tại Hội nghị Bretton Woods 1944, các tổ chức kinh tế thế giới toàn cầu như Ngân hàng Thế giới (World Bank), Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund) hay Liên Hợp Quốc (United Nations) được thiết lập; đặc biệt, đồng đô la được chọn là đồng tiền chính trong thương mại quốc tế. Và từ đây, hệ thống kinh tế toàn cầu hoá bắt đầu được vận hành và phát triển lớn mạnh đến ngày nay.

Tại Hội nghị “Bretton Woods Mới”, đã có rất nhiều hy vọng rằng từ đây, thế giới sẽ bước sang một trang sử mới với một thế giới mới được vận hành bởi một nền kinh tế nhân văn hơn, bền vững hơn, tôn trọng các giới hạn của Trái đất, và các nguồn lực được chia sẻ một cách công bằng hơn.

Các thử nghiệm của Vcil Community như Gift Bank, Consumer Club, hay Offers and Needs market hay Pay-it-forward Fund đều thể hiện những nỗ lực để cùng thiết lập một nền kinh tế mới như bác Tashi đề cập - một nền kinh tế mà thế giới cần.

Tuy nhiên, ngay sau khi cụm từ “Bretton Woods Mới” được nhắc đến bởi thủ tướng Bhutan, ông Thinley, 3 đại diện từ Ngân hàng Thế giới liền xuất hiện trước mặt ông sau khi bài phát biểu kết thúc với lời nhắc nhở rằng: “Bhutan là một quốc gia đang phụ thuộc vào các nước khác, và ông không được nhắc đến “Bretton Woods Mới”. Thế giới này đang vận hành dựa vào “Bretton Woods” cũ. Ông hãy từ bỏ cách dùng từ đó đi.” Và từ đó những biến động xuất hiện với Bhutan.

Về căn bản, Bhutan ở vị thế khá phức tạp. Ở phía Bắc, Bhutan giáp với Trung Quốc, còn ở phía Nam, quốc gia này giáp với Ấn Độ. Bhutan trông giống như miếng thịt bị kẹp giữa hai lát sandwich có sức mạnh khổng lồ. Chưa kể Ấn Độ là quốc gia tài trợ cho nhiều hoạt động trọng điểm của Bhutan, đặc biệt là kế hoạch phát triển 5 năm của quốc gia này. Ấn Độ cũng có nhiều căn cứ quân sự tại Bhutan. Tóm lại, Bhutan hoàn toàn nằm trong lòng bàn tay của Ấn Độ.

Đương nhiên, Ấn Độ không hài lòng khi vị thủ tướng Bhutan nhắc đến “Bretton Woods Mới”. Họ đã nói thẳng với Bhutan rằng: “Các anh có thể nói về hạnh phúc gì đó cũng được, nhưng nói đến một hệ thống kinh tế mới thì các anh đã đi quá xa”.

Lí do rất đơn giản, nền kinh tế của Ấn Độ đang phụ thuộc vào nhiên liệu hoá thạch, và tuyên bố của Bhutan về hệ hình kinh tế mới có nghĩa Ấn Độ cần từ bỏ nhiên liệu hoá thạch. Đồng thời, Bhutan cũng tự thân phát triển hệ thống Tổng Hạnh phúc Quốc gia; giao thiệp với nhiều quốc gia khác hơn. Điều này khiến Ấn Độ cảm thấy rằng mình đang mất dần kiểm soát Bhutan. Cuối cùng, dưới nhiều tác động và áp lực khác nhau, Bhutan đã bị dẫn đến một hướng đi khác. Cụm từ “Hệ hình kinh tế mới” nhanh chóng bị thay thế bởi “hệ hình kinh tế mới”, và rồi cuối cùng cũng bị biến chất.

Song song với những biến động trên, Tashi và cộng sự đã tập hợp được khoảng 70 chuyên gia hàng đầu để cùng thiết kế những nền tảng quan trọng để thiết lập một hệ hình kinh tế mới. Họ là những nhà kinh tế học, nhà khoa học, học giả có tâm và có tầm. Tuy nhiên, toàn bộ đội ngũ đã bị giải thể chỉ 1 năm sau đó. Ngay cả Jigme Y Thinley cũng bị đẩy khỏi nội cát sau khi thất bại trong cuộc Tổng tuyển cử năm 2013, một năm sau Hội nghị với nhiều sự bất thường. Và nhiều tác động lớn khác đã diễn ra ở Bhutan. Điều này khiến bác Tashi và những người tâm huyết khác buồn phiền và thất vọng.

—-

2. Tại sao những cách đo lường khác không được phổ biến hơn, và chủ nghĩa tư bản vẫn chiếm ưu thế?

Bề ngoài, cách tiếp cận của GPI khá đơn giản, đó chỉ là đo lường những gì quan trọng. Bất cứ ai cũng đồng tình với những gì được xem là quan trọng: không khí sạch, nước sạch, người dân khoẻ mạnh, giáo dục thật sự, giải quyết nghèo đói,... Tuy nhiên, chúng ta đang vận hành trên hệ thống kinh tế toàn cầu, và đây mới là thứ ngăn cản sự phổ biến của những cách tiếp cận khác.

Chủ nghĩa tư bản phát triển dựa trên sự tăng trưởng vô hạn và sự cạnh tranh. Ví dụ, một chủ doanh nghiệp ban đầu có thể hài lòng vì có được một nguồn thu nhập vừa đủ, nhưng rồi sau đó họ bị đẩy khỏi cuộc đua kinh tế bởi những doanh nghiệp lớn hơn - những thế lực có thể sản xuất cùng một thứ và bán với giá cả thấp hơn nhờ lợi thế kinh tế về quy mô.

Do đó, nhiều chủ doanh nghiệp, hay một nhà tư bản, dù họ có muốn trả lương cao hay quan tâm đến phúc lợi của nhân viên, cuối cùng cũng sẽ phải dịch chuyển sang những nơi nhân công giá rẻ. Đơn giản vì chỉ như vậy, họ mới có thể cắt giảm được chi phí và sản xuất với chi phí rẻ hơn, gia tăng sự cạnh tranh trên thị trường so với các đối thủ. Và đây là bản chất của nền kinh tế toàn cầu.

Khi nhắc đến nền kinh tế toàn cầu, tất cả các chính phủ, cho dù họ tự nhận mình là dân chủ, cộng sản hay là gì đi nữa, họ đều nói đến tăng trưởng GDP. Chúng ta có thể nhận thấy điều này khi nghe những gì các nguyên thủ quốc gia phát biểu, cho dù đó là Donald Trump, Tập Cận Bình hay Vladimir Putin, họ đều nhắc đến tăng trưởng GDP. Cho nên toàn thế giới đang bị khoá chặt vào một nền kinh tế tư bản toàn cầu.

Nhìn bề ngoài, các chỉ số như GPI có vẻ “vô hại”, nên các nhà hoạch định chính sách rất đồng tình và nhiệt tình gật đầu khi mới tiếp cận đến nó. Cho đến khi họ tiếp cận đủ sâu, họ mới nhận ra GPI thật ra đang thách thức những ý tưởng căn bản của hệ thống kinh tế toàn cầu hiện tại. Do đó, họ bỏ rơi những chỉ số này ngay lập tức.

Theo bác Tashi, đây là lí do tại sao những ý tưởng, sáng kiến rất dễ hiểu, đơn giản, ai cũng đồng tình, nhưng lại chẳng đi đến đâu trong thực tế. GPI đơn giản là cái gai trong mắt hệ thống kinh tế toàn cầu hiện tại, nhất là với các doanh nghiệp và tập đoàn lớn, do đó nó không được trao cơ hội để có thể phát triển phổ biến hơn.

3. Nếu hệ thống tư bản quá mạnh mẽ như vậy, thì liệu có cách nào để thay thế chúng không?

Bác Tashi trả lời câu hỏi này bằng hai luận điểm, và có thể xem đây là hai tin tốt.

Thứ nhất, trong suốt chiều dài lịch sử loài người, nhiều hệ thống kinh tế khác nhau đã được tạo dựng và rồi sụp đổ. Nền kinh tế nô lệ (slavery economic system) đã từng là hệ thống thống trị nay đã biến mất. Chế độ phong kiến cũng từng là hệ thống kinh tế chính trị thống trị, nay cũng đã biến mất. Do đó, không có lí do gì hệ thống kinh tế tư bản này cứ tồn tại mãi.

Nói một cách công bằng, chủ nghĩa tư bản cũng có giá trị của nó ở một mức độ nhất định. Chúng ta hẳn sẽ thấy biết ơn khi có thuốc mê trong lúc làm phẫu thuật. Chúng ta sẽ chẳng đi đến những vùng đất xa xôi như dãy Hi Mã Lạp Sơn một cách dễ dàng nếu không có máy bay. Nhưng đến một mức độ nào đó, tác hại của nó sẽ lớn hơn những lợi ích nó mang lại. Và chúng ta đã vượt qua giới hạn an toàn đó.

Tác hại của chủ nghĩa tư bản đã quá lớn, chúng đã phá hoại nhiều đến mức chúng ta cần phải thay thế hoàn toàn hệ thống kinh tế toàn cầu hiện tại. Chẳng có lí do gì để chủ nghĩa tư bản tiếp tục tồn tại khi tác hại rõ ràng đã vượt khỏi lợi ích của nó.

Thứ hai, thế giới đã được chứng kiến rằng ngăn chặn chủ nghĩa tư bản là hoàn toàn có thể. Trong thời kì đại dịch covid diễn ra, cả thế giới đã nhận thấy những mối nguy hại, và đồng lòng dừng nền kinh tế lại. Chỉ sau một đêm, chúng ta ghi nhận sự cắt giảm khí nhà kính lớn nhất kể từ khi cách mạng công nghiệp diễn ra. Đây được xem là hành động tập thể tuyệt vời nhất để chống biến đổi khí hậu.

Trước đó, nhiều nỗ lực hàng thập kỉ được thực thi để làm sạch dòng sông Hằng, nhưng đều không thành công. Cho đến khi covid diễn ra, dòng sông Hằng đột nhiên trở nên trong hơn. Đơn giản vì không còn hoạt động kinh tế nào diễn ra, không còn những chất thải và hoá chất độc hại bị thải thẳng ra sông nữa. Và lần đầu tiên những người dân ở bang Punjab (Ấn Độ) có thể nhìn thấy dãy Hi Mã Lạp Sơn từ cửa sổ của mình; đơn giản những nguồn gây ô nhiễm không khí không còn nữa. Và đây cũng là lần đầu tiên New Delhi, thành phố ô nhiễm nhất thế giới, có được không khí sạch.

Vậy nên, lịch sử đã chứng minh chúng ta có thể ngăn chặn nền kinh tế tư bản. Chúng ta đã được chứng minh việc chuyển hướng nền kinh tế khỏi sự huỷ diệt, tạo không gian để tự nhiên hồi phục là hoàn toàn khả thi; thậm chí có thể thay thế nó bằng một hệ thống khác phù hợp hơn, bền vững hơn và tồn tại bên trong những giới hạn của hành tinh.

Chúng ta đã có sẵn những công cụ, kiến thức và phương pháp để thực thi. Những gì cộng đồng Vcil đang làm cũng đóng phần gieo hạt để kiến tạo nên một xã hội mới. Chúng ta biết cần phải làm gì, làm như thế nào rồi. Và đây cũng là tin tốt.

4. Vậy thì chúng ta phải đợi một cuộc khủng hoảng khác hoặc một thảm hoạ thảm khốc thì con người mới chịu thức tỉnh và thay đổi?

Trước đây bác cũng từng nghĩ vậy. Bác từng tin rằng những cuộc khủng hoảng, những vấn đề xảy ra sẽ khiến cho tất cả mọi người thay đổi. Thậm chí bác còn chắc chắn điều đó sẽ xảy ra.

Ví dụ, năm 1992, bác Tashi lúc đó đang sống ở Nova Scotia, Canada. Thời điểm đó, đột nhiên, mọi người ghi nhận sự sụt giảm nghiêm trọng số lượng cá và hải sản ở Đại Tây Dương. Mọi người đã đánh bắt và khai thác hải sản quá mức. Nhiều loại cá tầng đáy (groundfish) không còn nữa. Chỉ sau một đêm, 40,000 người mất việc. Ngành đánh bắt thuỷ hải sản sụp đổ một cách bất ngờ.

Bác Tashi lúc đó đinh ninh rằng “rồi cuối cùng mọi người cũng sẽ nhận ra rằng không có sự tách biệt giữa kinh tế và sinh thái. Họ sẽ nhận ra rằng nếu không chăm sóc hệ sinh thái cẩn trọng, tất cả sẽ thất nghiệp. Mọi người sẽ thôi tranh luận chọn môi trường hay kinh tế nữa, vì mọi thứ đã quá rõ ràng: sức khoẻ của nền kinh tế phụ thuộc vào một môi trường khoẻ mạnh.”

Thế mà người ta vẫn cứ mê muội. Họ tiếp tục phá hoại những khu rừng với cách khai thác tận diệt tương tự.

Rồi một sự kiện thiên tai thảm khốc khác đã diễn ra ở Mỹ năm 2005, khi cơn cuồng phong tên là Katrina tàn phá New Orleans, Mỹ. Lúc đó, bác Tashi lại mong rằng rồi mọi người sẽ thấy được hệ quả của biến đổi khí hậu mà thay đổi.

Tuy nhiên, thảm hoạ đến rồi đi, chỉ còn sự mê muội của con người là vẫn còn đó. Họ vẫn không hiểu và không chịu thay đổi. Đây thật sự là một điều đáng buồn.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn có nhiều lựa chọn. Điều quan trọng là chúng ta biết cần phải làm gì, và làm như thế nào. Chúng ta có thể làm điều đó. Trong hành trình kiến tạo những thay đổi cần thiết, chúng ta cũng góp phần xoa dịu và làm bớt nỗi đau phải gánh chịu. Và chúng ta có thể thúc đẩy sự thay đổi từ từ, mà không phải ép buộc những chuyển dịch quá lớn trong xã hội ngay lập tức. Cho nên theo bác Tashi, quan điểm cho rằng phải đợi những cuộc khủng hoảng hay thảm hoạ, đồng thời nhiều nỗi đau và mất mát cũng sẽ diễn ra, là không thật tế và thiếu khôn ngoan.

Do đó, bác nhấn mạnh rằng, chúng ta không cần phải chờ đợi gì cả; chúng ta không phải không biết cần phải làm gì, hay không có đủ nguồn lực để thực hiện chúng, hoặc không biết cách làm để giảm bớt đau khổ trên hành trình này. Chúng ta không cần một siêu khủng hoảng để sự thay đổi diễn ra.

NẾP MỚI #7: TỪ GDP ĐẾN GPI: KHI PHÁT TRIỂN KINH TẾ KHÔNG CẦN PHẢI ĐÁNH ĐỔI HẠNH PHÚC VÀ SINH THÁI

[Sự kiện dành riêng cho Thành viên Vcil Community Membership]

Thời gian: 19.30 thứ sáu ngày 15 tháng 10 năm 2025

🎉 Hình thức: Diễn ra trên nền tảng Zoom (online)

Ngôn ngữ: Tiếng Anh (Có hỗ trợ phiên dịch tiếng Việt)

MÔ TẢ NẾP MỚI #7: VƯỢT THOÁT KHỎI GDP

Năm 1944, sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, các quốc gia phe đồng mình đã tụ họp tại Hội nghị Bretton Woods để thiết lập một trật tự toàn cầu mới. Chính tại đây, các định chế tài chính đã định hình nên thương mại toàn cầu ra đời: Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế.

Sau sự kiện này, chỉ số GDP - một chỉ số để đo lường tổng sản phẩm một nền kinh tế tạo ra, được sử dụng để đo lường sự phát triển của các quốc gia. Đây cũng là điểm khởi đầu của những sai lầm, những cuộc khủng hoảng. Trong một thời gian dài, GDP được chấp nhận vì tính khách quan tương đối (dựa trên giao dịch thị trường), dễ dàng so sánh giữa các quốc gia và khả năng đo lường tổng năng lực sản xuất của một nền kinh tế trong thời chiến và tái thiết. Tuy nhiên, các quốc gia dần dà đánh đồng sự gia tăng GDP đồng nghĩa với sự tiến bộ, phồn thịnh và hạnh phúc.

❗ Nghịch Lý Của GDP (Tổng Sản Phẩm Quốc Nội)

Một nghịch lí của GDP đó là những hiện tượng như phá rừng, dòng sông ô nhiễm, một vụ tai nạn, một người mắc bệnh hiểm nghèo… cũng đóng góp vào sự gia tăng GDP.

- Phá rừng có nghĩa là có nhiều diện tích đất hơn để sản xuất hay có nhiều gỗ hơn để bán.

- Dòng sông ô nhiễm thì chi phí dọn dẹp, xử lí chất thải gia tăng; nhu cầu máy lọc nước cũng theo đó tăng lên; sức khỏe cộng đồng bị ảnh hưởng, dẫn đến việc người dân phải chi tiêu nhiều hơn cho việc khám chữa bệnh, thuốc men, bệnh viện.

- Tai nạn hay bệnh tật có nghĩa là các dịch vụ y tế sẽ được sử dụng, dịch vụ sửa chữa xe cộ được chi trả.

Tất cả đều được tính vào sự gia tăng của GDP. Và khi GDP tăng, đó được xem là dấu hiệu tích cực, là điều đáng vui mừng. Thật khó hiểu khi một chỉ số đo lường sự tiến bộ lại cho thấy một thực tế ngược lại.

🌍 Những Hạn Chế Của GDP

Còn đó những tồn đọng khác mà chỉ số GDP tạo ra:

- GDP bỏ qua các lợi ích xã hội và môi trường (như bảo vệ môi trường, công việc cộng đồng tự nguyện).

- Chỉ số này còn tính những hoạt động mang tính phá hoại, thiếu bền vững là những hoạt động thúc đẩy kinh tế phát triển (giải quyết vấn đề ô nhiễm, tội phạm, bệnh tật).

- GDP cũng không tính đến sự suy thoái của sinh thái do các hoạt động kinh tế gây ra (khai thác quá mức khoáng sản, tài nguyên biển, đánh bắt tận diệt...).

- Điều quan trọng nhất, GDP không tính đến những yếu tố quan trọng đóng góp nên hạnh phúc thật sự của con người (thời gian bên người thân, mối quan hệ xã hội chất lượng, tài sản chung của cộng đồng, thực phẩm hữu cơ...).

GPI: CHỈ SỐ TIẾN BỘ THỰC SỰ

Nhận thấy những điểm hạn chế của GDP, nhiều nỗ lực được thực hiện để kiến tạo nên một hệ thống đo lường nhân văn hơn, bao hàm hơn và toàn diện hơn; nhằm hướng đến một nền kinh tế phúc lạc và tái tạo.

Một trong những nỗ lực đó đã tạo nên Chỉ số Tiến bộ Thực sự – Genuine Progress Index (GPI). Đây là một thước đo toàn diện hơn về phúc lợi kinh tế và xã hội của một quốc gia, được thiết kế để thay thế hoặc bổ sung cho Tổng sản phẩm quốc nội (GDP).

Vậy thì, trên thực tế, chỉ số này đã làm được gì? GPI giúp chúng ta hiểu gì về những yếu tố quan trọng trong cuộc sống? Bạn có đang loay hoay không biết điều gì một cá nhân, doanh nghiệp, cộng đồng hay quốc gia cần tập trung vào?

🔎 Nội Dung Dự Kiến Tại Nếp Mới #7

Trong buổi trò chuyện Nếp Mới #7 lần này, chúng ta sẽ cùng Ronald Tashi Colman, người thiết kế và xây dựng GPI, khám phá và thảo luận về:

NGƯỜI CHIA SẺ: RONALD TASHI COLMAN

Ronald Tashi Colman là một trong những người tiên phong trong phong trào toàn cầu "vượt thoát khỏi GDP" (Beyond GDP), một phong trào nhằm thay thế hoặc bổ sung GDP bằng các chỉ số đo lường tiến bộ toàn diện hơn, tập trung vào phúc lợi, tính bền vững và công bằng. Ông là nhà kinh tế học, nhà giáo dục và nhà hoạt động chính sách. Ông là một trong những nhân vật quan trọng trong lĩnh vực phát triển bền vững, và là tiếng nói mạnh mẽ trong việc thúc đẩy sự tiến bộ thực sự, thông qua đo lường những gì quan trọng (what really counts) đối với con người và trái đất.

Tiểu Sử Nổi Bật

- Sự nghiệp bắt đầu từ việc làm phóng viên cho thời báo Canberra Times từ 1968-1969, nơi ông phản đối mạnh mẽ việc kiểm duyệt thông tin.

- Chuyển sang dạy tiếng Anh ở Israel, đi du khảo ở Hồng Kong và Ấn Độ – những trải nghiệm giúp ông thấy rõ những hiện thực trong cuộc sống và di sản của thực dân, định hình nên mong muốn phụng sự cộng đồng của mình.

- Giảng dạy khoa học chính trị tại nhiều trường đại học (Colombia, New York, Colorado, Thánh Mary ở Halifax, Canada). Hầu hết sự nghiệp học thuật của ông tập trung vào phản biện về chỉ số GDP.

- Năm 1997, Colman đã sáng lập GPI Atlantic, một tổ chức nghiên cứu phi lợi nhuận ở Canada. Tại đây, ông và cộng sự đã phát triển Chỉ số Tiến bộ Thực sự (Genuine Progress Index - GPI), chỉ số toàn diện đầu tiên về phúc lợi và phát triển bền vững cho Nova Scotia, kết hợp 20 chỉ số xã hội, kinh tế và môi trường.

- Từ năm 2003 đến khoảng năm 2013, ông dành một thập kỷ ở Bhutan với vai trò cố vấn khoa học cho Chính phủ Hoàng gia, giúp thúc đẩy Tổng Hạnh phúc Quốc gia (GNH) như một khung đo lường toàn diện. Nhờ kinh nghiệm này, ông đã giúp chính phủ Bhutan truyền thông cho thế giới về cách làm khác biệt của quốc gia này trong việc định nghĩa, giải thích và lan tỏa GNH tới thế giới. Hành trình này đã mở ra một con đường mới trong hệ hình kinh tế mới toàn cầu. Đặc biệt, mô hình của Bhutan đã được chia sẻ rộng rãi trong các diễn đàn quốc tế do Liên Hợp Quốc tổ chức.

Tác Phẩm Chính

Năm 2022, ông xuất bản cuốn sách What Really Counts: The Case for a Sustainable and Equitable Economy. Đây là sự tổng kết cho toàn bộ sự nghiệp và triết lý của Ronald Colman.

Cuốn sách này:

- Là câu chuyện người trong cuộc về những nỗ lực cá nhân của ông để thúc đẩy các chính phủ thông qua các biện pháp đo lường toàn diện về chi phí và lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường.

- Giải thích cặn kẽ vì sao sự ám ảnh với "tăng trưởng kinh tế" đơn thuần lại dẫn đến các chính sách gây hại cho môi trường và gia tăng bất bình đẳng.

- Cung cấp một lộ trình thực tế (dựa trên kinh nghiệm từ Nova Scotia, New Zealand và Bhutan) về cách các chính sách có thể được chuyển hướng từ mục tiêu tăng trưởng vật chất sang mục tiêu bền vững và công bằng.

👉 ĐĂNG KÝ THAM GIA BUỔI CHIA SẺ NẾP MỚI #7 NGAY HÔM NAY: Xem tại phần bình luận

Hẹn gặp bạn trong buổi Nếp Mới #7 này!

****

VỀ NẾP MỚI

Lấy cảm hứng từ chữ “Nếp” trong tiếng Việt – hàm chứa những khuôn mẫu cố hữu của văn hóa, thói quen và đời sống hằng ngày – Vcil Community khởi xướng Nếp Mới để tạo không gian lành tính nuôi dưỡng những nếp sống mới: ưu tiên hạnh phúc bền vững và tái tạo sự giàu có đích thực. Đây là không gian cộng đồng giúp mọi người ý thức và gỡ bỏ những khuôn mẫu lỗi thời, tiếp thu từ trí tuệ tập thể, và tái hình dung cách chúng ta sống, kết nối và học tập.

Mỗi tháng, thành viên cộng đồng sẽ cùng đào sâu vào một chủ đề khác nhau. Nếp Mới sẽ mời những học giả, chuyên gia, những người có kinh nghiệm thực tiễn để chia sẻ về những chủ đề thiết yếu, gần gũi trong cuộc sống. Người tham gia sẽ có cơ hội đối thoại với họ để làm sâu sắc hơn hiểu biết của mình, tìm hướng giải quyết những vấn đề cá nhân/ tập thể hay khởi sự làm một công việc có ý nghĩa… Hơn cả một cuộc trò chuyện, Nếp Mới là nơi nuôi dưỡng sự phản tư, thúc đẩy sự hợp tác, và cung cấp những công cụ thực tiễn để cả cộng đồng cùng hướng tới một tương lai tái sinh và phúc lạc.

🌿Thông tin liên lạc:

Fanpage: Vcil Community

SĐT/Whatsapp/Zalo: (+84) 918580257 (Trinh Thái)

Email: vcil.group@gmail.com

Các dự án liên quan bài viết

New Ways will invite scholars, experts, and people with practical experience to share about essential and familiar topics in life