You are looking at our new website. Return to the old interface.
Ngày 25.10 vừa qua, buổi chia sẻ Vcil Member’s Talks #2: “Dòng chảy văn hóa lúa mùa - Chuyển đổi nông nghiệp hiện đại về cội nguồn nông nghiệp tự nhiên” đã diễn ra đầy trọn vẹn. Với phong cách dí dỏm, chân chất, chú Tư Việt – chủ Trang trại lúa mùa Tư Việt và Giám đốc Hợp tác xã Nông dân Sáng tạo (IFC) đã mang đến nhiều câu chuyện mộc mạc mà sâu sắc về hành trình gìn giữ giống lúa mùa truyền thống.
Năm 2022, chú Tư đã hợp tác cùng Đại học Cần Thơ trong việc trồng và đánh giá 850 giống lúa của IRRI. Đồng thời, chú cũng phối hợp với TS. Nguyễn Thành Tâm trong dự án trẻ hóa và phục tráng 850 giống lúa mùa ĐBSCL được sưu tập tại Đại học Cần Thơ.
Buổi trò chuyện không chỉ phác họa một bức tranh toàn cảnh về nông nghiệp tự nhiên mà còn gieo mầm những suy nghĩ mới mẻ, kết nối giữa người chia sẻ và người tham dự.
Buổi chia sẻ bắt đầu bằng những dòng hồi tưởng đầy cảm xúc về tuổi thơ của chú Lê Quốc Việt. Chú kể rằng bản thân đã gắn bó với lúa mùa từ năm 13 tuổi, chính thức trở thành người nông dân thực thụ trồng lúa mùa vào năm 15 tuổi (sau khi ba mất). Những ký ức nguyên sơ, giàu tính tự nhiên về lúa mùa đó đã trở thành “cội rễ” vững chắc trong tầm hồn chú.
Khi bước qua tuổi 50, những ký ức tuổi thơ bỗng sống dậy mãnh liệt, hòa cùng tình yêu quê hương sâu sắc từ giai điệu bài hát “Khúc hát sông quê”:
“Qua nửa đời phiêu dạt
Con lại về úp mặt vào sông quê
Ơi con sông dạt dào như lòng mẹ
Chở che con qua chớp bể mưa nguồn”
Chính cảm xúc ấy đã thôi thúc chú ấp ủ một ước vọng lớn lao: xây dựng một không gian để gìn giữ những ký ức tuổi thơ bên ruộng đồng và trao truyền cho thế hệ sau những tri thức và hiểu biết đó.
Sau khi tốt nghiệp kỹ sư nông nghiệp tại Đại học Cần Thơ và làm việc 37 năm trong ngành nông nghiệp nông thôn, chú tận mắt chứng kiến quá trình thâm canh, tăng vụ (từ 1 vụ lên 2-3 vụ) kéo theo việc lạm dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật. Hệ quả là đất, nước và không khí ngày càng bị ô nhiễm, môi trường bị ảnh hưởng nghiêm trọng và sức khỏe con người cũng bị đe dọa. Tất cả những điều đó đã khiến chú Tư không khỏi trăn trở.
Bên cạnh đó, từ thực tiễn kinh tế bấp bênh của người nông dân lúc bấy giờ, thường xuyên rơi vào cảnh “trúng mùa rớt giá”. Có thời điểm (vào năm 2016) lúa chỉ còn 10.000 VNĐ/3kg.
Từ nhỏ, chú Tư đã rất thích đọc sách, đặc biệt là “truyện Tàu” như Tam Quốc diễn nghĩa, Đông chu liệt quốc. Đến sau này, khi trưởng thành chú lại tìm đến những áng thơ của cụ Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, và đặc biệt chịu ảnh hưởng sâu sắc từ cụ Nguyễn Công Trứ – người đã gieo vào chú tinh thần “Đã mang tiếng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông”. Chính những nguồn cảm hứng ấy đã nuôi dưỡng trong chú một tâm thế quân tử: phải làm điều gì đó có ích cho quê hương, đất nước.
Tất cả những điều đó dẫn lối đến một “dấu mốc quan trọng” vào năm 2011. Khi đi tham quan Festival Lúa Gạo ĐBSCL, chú nhận thấy không còn tỉnh nào trưng bày dấu ấn của lúa mùa xưa, ngoại trừ gian hàng của Viện Nghiên cứu Phát triển Cần Thơ – nơi còn lưu giữ một vài nông cụ truyền thống và danh sách các giống lúa mùa như chịu mặn, chịu phèn... Ngay khoảnh khắc ấy, chú chợt nhận ra: “À, đây chính là cái mình đang tìm.”
Cũng từ đó, chú quyết định bắt tay vào xây dựng không gian bảo tồn lúa mùa – bởi “nếu không làm kịp bây giờ thì sẽ không còn cơ hội để làm”. Và đó chính là thời điểm ý tưởng ấy thật sự chín muồi.
Khi bắt tay vào công cuộc phục hồi, chú Tư đã vấp phải nhiều ý kiến trái chiều từ cả gia đình lẫn bạn bè. Người xung quanh cho rằng chú "khùng" khi quay từ thời đại 4.0, 5.0 về 0.0. Chú cũng không nhận được sự ủng hộ từ gia đình, báo chí thì cho rằng chú hơi “ngông”.
Bên cạnh luồng ý kiến phản đối ấy, vẫn có nhiều người ủng hộ ý tưởng của chú Tư. Chẳng hạn như chú Tú - người làm việc ở văn phòng tổ chức FAO, sau khi đi thăm ruộng lúa chú Tư về đã chia sẻ: “Chúng ta từng tự hào về một nền văn minh lúa nước mấy ngàn năm. Giờ đây còn lại gì ngoài những cánh đồng lúa mênh mông và tiếng máy Kubota chạy ì ầm..”.
Khi người ta không còn cày ruộng bằng trâu mà thay bằng máy móc thì dấu vết của nền văn minh lúa nước cũng biến mất. Chính vì thế, việc chú Tư đang làm mang ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc bảo tồn nền văn hóa hàng nghìn năm của cha ông.
Năm 2011, chú Tư bắt tay xây dựng trang trại bảo tồn văn hóa lúa mùa trên chính mảnh đất của mình và bắt đầu hành trình sưu tầm các loại nông cụ xưa. Đây là công việc khó khăn nhất - chú phải mất ròng rã 6 năm để sưu tập đầy đủ bộ nông cụ truyền thống.
Chú kể vui rằng phải dùng đến "kỹ năng sống đặc biệt" - tức là kỹ năng trên bàn nhậu - để thuyết phục bà con nhượng lại những dụng cụ cũ như cày, bừa, phản, gặt mà họ giữ làm kỷ niệm. Nhờ vào những buổi “trà dư tửu hậu” với những “lão nông tri điền” ấy, chú Tư không chỉ sưu tầm được hiện vật mà còn ghi chép thêm biết bao kinh nghiệm và tri thức quý báu.
Với sự khiêm cung đặc trưng của chú, chú Tư tự nhận ra rằng: “Có cái mình biết, cũng còn nhiều cái mình chưa biết”. Sau mỗi chuyến, chú lại mang theo một trăn trở mới: “Nếu nông cụ là phần văn hóa vật thể, thì đâu là phần văn hóa phi vật thể của văn hóa lúa mùa?”
Chú bắt đầu lật ngược lại lịch sử của Đồng Bằng Sông Cửu Long, chú nhận ra người Khmer chính là những người đầu tiên khai phá vùng đất này và đưa văn hóa lúa mùa vào đời sống. Từ đó, chú Tư quyết định chọn âm nhạc Khmer làm phần văn hóa phi vật thể cho văn hóa lúa mùa. Hiện tại, trong trang trại bảo tồn văn hóa lúa của chú Tư, bên cạnh những nông cụ xưa còn vang lên âm điệu trầm hùng của nhiều loại nhạc cụ Khmer – như một cách để nối liền hiện tại với ký ức của tổ tiên. Đến năm 2017, chú Tư cùng gia đình gom góp và rào lại 25.000 mét vuông đất để xây dựng trang trại bảo tồn văn hóa lúa mùa. Theo chú, đó là một hành trình dài và đầy thử thách, chú phải đi khắp nơi từ các tỉnh thành, huyện lỵ, các viện nghiên cứu để truy tìm những hạt giống mà ngày xưa mình từng biết. Cuối cùng, chú đã xin được 6 giống lúa mùa bản địa từ ngân hàng gen, mỗi giống chỉ 200 hạt để bắt đầu ươm lại.
Với chú, văn hóa lúa mùa không chỉ là quy trình trồng trọt, mà là cả một nếp sống: cách con người hòa hợp với thiên nhiên, ứng xử với những đổi thay của thời tiết, và gắn bó, giúp đỡ lẫn nhau trong lao động. Từ suy nghĩ ấy, chú tự học quay phim để ghi lại quy trình canh tác truyền thống cùng những hoạt động văn hóa đi kèm – như cách người Khmer dùng xà đen xúc cá – rồi chia sẻ lên mạng, lan tỏa tri thức bản địa đến với cộng đồng.
Trong quá trình phát triển, chú Tư Việt đặt nguyên tắc đa dạng sinh học lên hàng đầu, xem đó là yếu tố quyết định để tái tạo không gian văn hóa lúa mùa xưa.
Ban đầu, đây là cánh đồng mà chú từng cho thuê — một cánh đồng gần như đã kiệt sức sau nhiều năm bị canh tác thâm canh, mỗi vụ người ta xịt thuốc bảo vệ thực vật đến sáu lần. Cỏ cây, sinh vật hầu như bị tiêu diệt hoàn toàn.
Để phục hồi, chú dành trọn 2 năm không bón phân, không phun thuốc để đất tự phục hồi. Khi đất bắt đầu “thở lại”, chú quan sát xem những loại cỏ nào phục hồi được và loại cỏ nào đã biến mất. Với những loại cỏ không thể phục hồi, chú chủ động bổ sung bằng cách mang từ nơi khác về trồng như Cỏ Đưng, Cỏ Lát, Rau Má, Bồn Bồn - để tái tạo hệ thực vật tự nhiên
Cùng lúc đó, chú mua thêm các loài cá đồng để thả xuống ruộng: cá rô, cá sặc rằn, cá chạch, cá trê vàng từ rừng U Minh Thượng, thậm chí cả rùa và ba ba. Theo chú, chỉ khi hệ sinh thái phong phú trở lại, thì văn hóa lúa mùa mới thực sự hồi sinh.
Với chú Tư, đa dạng sinh học và hạt giống bản địa là hai trụ cột của văn hóa nông nghiệp.
Hạt giống là kết quả tích lũy văn hóa, tri thức của tổ tiên ông bà, càng trồng nhiều giống bản địa thì độ dày của văn hóa càng được bồi đắp.
Chỉ sau 2 năm, cánh đồng từ khô cằn đã trở nên rôm rả và sống động: trùn đất trở lại, cỏ dại mọc lên tự nhiên, cá bắt đầu sinh sản. Đặc biệt, sự xuất hiện của một loại cá chỉ thị môi trường - Cá Sặc Điệp – loài cá xây tổ có kết cấu phức tạp – là dấu hiệu cho thấy môi trường nước và đất đã ổn định. Còn sự xuất hiện của cào cào, châu chấu thì chú Tư nuôi thiên địch của chúng (vịt, ngỗng) để cân bằng tự nhiên. Mọi thứ trở lại đúng trật tự vốn có của nó – một cánh đồng vừa là sinh thái, vừa là văn hóa.
Bên cạnh đó, sau những mùa gặt, chú Tư luôn chọn trả lại sinh khối cho đất - chính là những gốc rạ sau khi đã gặt xong. Đối với chú, giữ gìn truyền thống của ông bà không có nghĩa là giữ khư khư cái cũ, mà là biết tiếp thu và làm mới những giá trị xưa trong bối cảnh hôm nay.
Chính vì vậy, chú Tư không ngừng đi học, tìm hiểu ở nhiều nơi để mở rộng tri thức. Một trong những điều khiến chú tâm đắc nhất là kiến thức về vi sinh vật đất.
Chú học kỹ thuật canh tác hữu cơ (organic) và tập trung nghiên cứu sâu sắc vào Vi sinh vật đất (vi khuẩn, vi nấm). Chú nhấn mạnh rằng: “vùng chóp rễ chính là vùng đa dạng sinh học bậc nhất hành tinh". Đây là nơi vi khuẩn phân giải chất khó tiêu trong đất để cho cây trồng hấp thu dinh dưỡng, nhờ đó cây đưa được vi lượng lên thân, cành và tạo thành các chất hữu cơ. Giữa cây trồng và vi sinh vật có sự cộng sinh chặt chẽ với nhau, vì thế đất không có vi sinh vật thì không thể nào gọi là canh tác hữu cơ được.
Trong buổi chia sẻ, chú Tư còn minh họa cho người tham gia những hình ảnh của những sợi vi nấm dưới kính hiển vi. Dưới ống kính, ta thấy rõ sợi vi nấm dài hơn rất nhiều so với rễ cây - nhờ đó, khi hạn hán, chúng vươn ra để hút nước về cho cây giúp cây trụ vững giữa nắng khô. Vì vậy, cây càng có nhiều sợi vi nấm, cây càng ít bị ảnh hưởng bởi hạn.
Từ quan sát ấy, có thể thấy vi khuẩn và vi nấm đóng một vai trò quan trọng cho đất. Khi nhìn bảng khảo sát dinh dưỡng trong đất có vi nấm, thành phần dinh dưỡng phong phú hơn nhiều so với đất thông thường. Chú Tư tự hỏi: “Đã có sẵn cả một hệ dinh dưỡng tự nhiên như vậy, cớ sao mình còn phải dùng phân hóa học?”
Sau khi học xong, chú Tư liền ứng dụng trên đồng ruộng của mình. Chú áp dụng kỹ thuật canh tác "Thi Linh Zero", không làm đất để bảo vệ vi sinh và dùng rơm rạ phủ mặt đất, coi cỏ là bạn chứ không phải thù, dùng nó để tạo hệ sinh thái, che phủ đất và sau đó chặt trả lại làm hữu cơ. Ngoài ra, chú nuôi Bèo Hoa Dâu (Azolla). Theo tính toán, 1 hecta bèo hoa dâu nở đầy mặt ruộng có thể cho 13 tấn phân xanh/đợt (tương đương hơn 2 tấn chất khô), bổ sung lượng hữu cơ rất lớn cho đất. Nhờ vậy,sau thời kỳ cải tạo, giờ đây ruộng của chú đã đầy ắp những sinh vật: cá đồng, nhền nhện trắng, chim én, chim quốc,...
Song song đó, chú Tư còn ứng dụng tri thức bản địa trong chọn giống lúa. Năm 1900, người Pháp ghi nhận ở Việt Nam chỉ có 500 giống lúa; đến năm 1982, GS. Võ Tòng Xuân đã thu thập được 1.988 giống – nhờ vào kinh nghiệm chọn lọc của ông bà ta. Họ không cần kỹ thuật phức tạp, chỉ bằng con mắt tinh tường, chọn giữ lại những cây “đẹp trai”, “đẹp gái” – hạt chắc, cơm dẻo, thơm ngon – để nhân giống cho vụ sau. Bằng chính những kinh nghiệm và tri thức dân gian đó, họ đã tạo ra hàng trăm giống lúa mới góp phần hình thành nguồn gen đa dạng cho nền nông nghiệp của nước nhà.
Trong quá trình trồng và trẻ hóa hạt giống lúa mùa ĐBSCL, chú Tư nhận ra trong số 850 giống lúa được trồng, có hơn 200 giống thuộc nhóm lúa mùa nổi – loại lúa sinh trưởng trong điều kiện ngập nước sâu. Phần còn lại chủ yếu là lúa nước sâu hoặc lúa cạn (úp lan rai). Từ đó, chú phân ra 3 nhóm với các đặc điểm như sau:
- Lúa cạn (úp lan rai): Trồng ở các vùng chân núi, triền đồi như Tri Tôn, Tịnh Biên – nơi nước chỉ đọng trong thời gian ngắn sau mưa, rồi rút nhanh.
- Lúa nước sâu: Phổ biến ở Hậu Giang, Kiên Giang, U Minh Thượng – nước ngập trung bình ngang hông người, phù hợp với vùng đất trũng, nhiều phèn.
- Lúa mùa nổi (úp là bờ tiên rai): Trồng ở vùng Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười – nơi nước dâng cao từ 1 đến 2 mét mỗi năm, cây lúa phát triển theo mực nước, “nước lên đến đâu, lúa vươn theo đến đó.”
Từ sự đa dạng và linh hoạt này, chúng ta có thể thấy được bản lĩnh chọn giống và canh tác của ông bà tổ tiên ngày xưa. Họ hiểu sâu sắc các đặc tính như thổ nhưỡng, thủy văn, từ đó, chọn loại lúa phù hợp với địa hình. Không cần công nghệ hiện đại vẫn duy trì năng suất ổn định.
Thêm vào đó, trong quá trình nghiên cứu, chú nhận ra rằng, trong 100 giống thuộc nhóm lúa mùa nổi, có đến 80 giống cho ra gạo đỏ (gạo lứt có cám màu đỏ). Ngược lại, ở vùng Cần Thơ – Cà Mau, nơi trồng chủ yếu lúa nước sâu, trong 100 giống chỉ có 2–4 giống cho gạo đỏ, như Huyết Rồng, Châu Hồng Võ, Đốc Phụng và Một Bụi Đỏ. Điều này giúp chú Tư còn lý giải được câu ca dao nổi tiếng:
“Cần Thơ gạo trắng nước trong, ai đi đến đó lòng không muốn về.” “Gạo trắng” là lúa nước sâu cho hạt trắng được trồng phổ biến ở khu vực Cần Thơ trở xuống, “nước trong” là do phù sa giảm dần khi phù sa từ thượng nguồn sông Mekong lắng lại ở xuống vùng trũng Tứ giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười . Một câu hát dân gian hóa ra lại là tấm bản đồ tự nhiên – văn hóa – nông học của cả vùng châu thổ.
Ngoài ra,chú Tư cũng giải thích thêm về giống huyết rồng và những hiểu nhầm của người tiêu dùng hiện nay. Trên thị trường, nhiều loại gạo đỏ được bán dưới tên “Huyết Rồng”, nhưng thực chất là gạo đỏ từ giống lúa cạn của Campuchia – loại chín vào khoảng cuối tháng 10. Trong khi đó, Huyết Rồng thật sự của Đồng bằng sông Cửu Long là giống chín muộn, thường thu hoạch vào cuối tháng Chạp hoặc rằm tháng Giêng. Hiện nay giống này rất hiếm, hầu như không còn được canh tác rộng rãi. Thông qua đề tài này, chú Tư cũng đã thử phục hồi được một phần nguồn giống gốc, nhưng vẫn chưa đủ nhiều để mở rộng sản xuất.
Không chỉ dừng lại ờ những nghiên cứu, thử nghiệm, chú Tư tiếp tục gieo hạt tri thức cho cộng đồng: mở lớp học canh tác hữu cơ cho nông dân địa phương, giới thiệu văn hóa lúa mùa cho học sinh, sinh viên, du khách, và mỗi năm đều tổ chức Ngày hội Lúa Mùa. Tại đây, người trẻ được tự tay đan chiếu, bó chổi, rèn dao, nấu rượu, ra đồng – sống trọn trong không gian văn hóa lúa mùa xưa.
Trang trại Lúa Mùa Tư Việt nay đã được đưa vào sách giáo khoa, đón nhiều đoàn học sinh trong và ngoài nước đến tham quan – niềm vui giản dị nhưng sâu sắc đối với chú. Tuy vậy, chú vẫn trăn trở: “Giấy chứng nhận hữu cơ tốn 36–50 triệu đồng, trong khi nông dân nhỏ lẻ như tôi chỉ cần làm đúng, làm thật.” Vì thế, chú chọn con đường “chứng nhận bằng hành động” – tự mình làm, và để ruộng đồng, cá chim, và hạt lúa lên tiếng.
1. Có bao giờ chú cảm thấy nản, muốn bỏ cuộc vì sự vất vả của công việc làm nông này không? Nếu có thì chú đã làm cách nào để có sự kiên trì và vượt qua?
Chú Tư khẳng định, "quá có" cảm giác nản lòng và muốn bỏ cuộc, thậm chí là "muốn bỏ nhiều lần lắm rồi". Thời điểm khó khăn nhất là đêm Ba mươi Tết (khoảng năm 2021 hoặc 2022), chú đã phải lên mạng xã hội bày tỏ nỗi lòng, gọi vui là "tâm sự lúa mùa tiêu diệt", vì quá mệt mỏi và thất vọng. Làm nông sinh thái cực nhọc, chú “lên bờ xuống ruộng” suốt ngày. Có lúc thất bại vì thiên địch không kiểm soát được dịch hại, rầy tấn công nặng nề đến mức “rầy tới trong mùng luôn”. Điều giữ lại chú, giúp chú tiếp tục vững tin vào con đường của mình đó là sự kết hợp giữa ý chí cá nhân và nguồn động viên từ bên ngoài.
Chú lấy tinh thần "gừng càng già càng cay" để đối diện với khó khăn. Chú có sự cương quyết và kiên trì tuyệt đối dựa trên niềm tin "đã mang tiếng sống trong trời đất phải có danh gì với núi sông". Chú ví mình là "chiếc xe ủi lô làm lộ" – chạy tới, không mở đèn, không đạp thắng – thể hiện sự quyết đoán và không để bất cứ ai cản trở con đường mình đã chọn.
Nguồn động viên tinh thần lớn nhất của chú là gặp gỡ những người trân trọng và quý mến công việc bảo tồn lúa mùa của chú. Tình cảm của thế hệ trẻ, đặc biệt là những hình ảnh, lời nói của các em nhỏ khi đến thăm. Các bạn nhỏ rời đi mà ôm ông Tư khóc "con nhớ ông Tư lắm”, những lần như vậy chú Tư lại nghĩ “rồi làm sao mà bỏ được đây" là động lực tinh thần mạnh mẽ nhất, khiến chú không bỏ cuộc.
2. Những khó khăn nào ban đầu về phía gia đình khi chú thực hiện bảo tồn lúa mùa thay vì trồng lúa 3 vụ?
Khó khăn ban đầu chủ yếu là về mặt tư tưởng và đồng thuận gia đình, xoay quanh rủi ro tài chính và sự khác biệt trong phương pháp canh tác. Má chú thì hiền lành nhưng bày tỏ sự lo lắng lớn nhất về tài chính và rủi ro: "Thôi mày làm cái gì thì mày làm... Nhưng mà làm đừng có bán đất trả nợ là được rồi". Các em thì cằn nhằn vì chú "làm khác người ta", không theo lối canh tác thông thường (3 vụ lúa ngắn ngày) mà lại "nuôi chim nuôi chuột". Vợ bày tỏ sự phản đối lớn về mặt tài chính và hiệu quả kinh tế. Chú đã phải thực hiện công việc trong bối cảnh chưa có sự đồng thuận của gia đình, chú dùng sự quyết đoán và vững tin vào niềm tin của mình để tiếp tục trên con đường này.
Chú kể rằng năm đầu tiên, lúa chú bị chuột cắn 100% đến nỗi chỉ có thể gặt lúa chét (lúa lên lại từ mắt khi cây lúa bị chuột cắn). Dù vậy, năm ấy vẫn có ngày hội lúa mùa cho bà con tham dự
Từ thất bại đó, chú rút kinh nghiệm cho vụ sau: trồng đa dạng hơn, nhiều giống lúa khác nhau. Giống nào bị chuột ăn nhiều thì chú đùa rằng “chắc là ngon lắm”, vì bản thân còn chưa kịp nếm mà chuột đã ăn hết.
3. Trong quãng thời gian thực hiện những nghiên cứu cũng như thực hành của mình về trồng trọt lúa mùa, với mô hình của bác nói riêng cũng như ở Việt Nam nói chung, khó khăn và thách thức nào là lớn nhất đối với bác?
Thách thức lớn nhất đối với mô hình của chú hiện nay là việc thiếu nguồn lực để phát triển sản phẩm sau thu hoạch và tối ưu hóa tài nguyên:
- Thiếu khả năng chế biến sâu: Nhiều giống lúa quý – có loại rất phù hợp để làm bánh – nhưng chú “không có lực, không có sức, không có nhân lực, không có tài lực, cũng không có thời gian để nghiên cứu, chế biến thêm”. Chính vì vậy, giá trị kinh tế của hạt lúa vẫn chưa được khai thác hết.
- Chưa khai thác hết tiềm năng: Dù diện tích ruộng còn rộng, chú thừa nhận “trồng thì cũng chưa hết, nuôi thì cũng chưa ra đâu”. Đây là những “việc mình chưa vượt qua được”, theo cách nói giản dị mà kiên định của chú.
Dẫu vậy, chú không xem đó là khó khăn lớn. Chú tin rằng chỉ cần làm trong khả năng của mình, không nản lòng, rồi mọi thứ sẽ dần mở ra.
Chính niềm tin bền bỉ ấy đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều người – những ai từng đến thăm trang trại, lắng nghe câu chuyện của chú và nhìn thấy cách một người nông dân đang âm thầm hồi sinh văn hóa lúa mùa trên chính mảnh đất quê hương.
4. Theo bác thì làm thế nào để các nông dân có nhận thức về tác hại của lạm dụng thuốc trừ sâu, phụ thuộc nhiều vào cải thiện năng suất thay vì chú trọng vấn đề môi trường và bền vững? Và làm thế nào để điều đó thực sự thay đổi vì con thấy rằng nhiều người họ cũng có một chút nhận thức về hậu quả nhưng có vẻ khá khó để thay đổi được cục diện.
Chú khẳng định rằng người nông dân thực ra đã ý thức được về tác hại của thuốc trừ sâu, chứ không phải không biết. Họ chứng kiến những người đi phun thuốc thuê chỉ khỏe mạnh được 5 đến 10 năm rồi "gãy gánh giữa đường" vì bệnh tật nặng, không có thuốc trị. Nhiều người đã ý thức bằng cách trồng một "liếp rau riêng, mảnh ruộng riêng" không phun thuốc để dành ăn.
Theo chú, rào cản khiến nông dân khó thay đổi không nằm ở nhận thức, mà là bài toán sinh kế, bởi vì họ sợ rủi ro thất bại sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống gia đình. Do đó, muốn thay đổi cục diện, phải giải quyết được vấn đề giá cả và đầu ra của sản phẩm.
Chú cũng nhấn mạnh rằng, sự chuyển đổi này không thể đến từ nỗ lực đơn lẻ của người nông dân, mà cần có sự chung tay của nhiều bên — từ chính sách của Nhà nước cho đến sự hỗ trợ của các cộng đồng. Quan trọng hơn hết, phải làm sao để người nông dân bán được sản phẩm với giá đủ tốt, giúp họ “sống được, nuôi được con cái của họ.”
5. Tại sao lại phải bảo tồn, phát triển, lưu trữ, nghiên cứu nhiều giống lúa làm gì ạ? Tại sao còn cần phải phục hồi các giống lúa từng bị mất đi?
Việc bảo tồn, phát triển, lưu trữ và nghiên cứu các giống lúa, đặc biệt là lúa mùa bản địa, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Những giống lúa này được hình thành qua quá trình chọn lọc tự nhiên lâu dài — nhờ thụ phấn chéo, khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu, hay sự thích nghi với mực nước dâng như lúa nổi — đồng thời là kết tinh của quá trình chọn lọc tỉ mỉ và kiên trì của ông bà ta qua nhiều thế hệ. Nhờ đó, chúng mang trong mình sức sống bền bỉ và khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu vượt trội so với các giống lúa lai ngắn ngày hiện nay.
Thứ hai, việc sử dụng những giống lúa bản địa làm nguồn gen cho việc lai tạo giống là điều rất cần thiết. Nếu không có nguồn gen địa phương này, việc lai tạo các giống chịu đựng được điều kiện khắc nghiệt là "cực kỳ khó". Bên cạnh đó, các giống lúa dài ngày có tính bền vững gen cao, không bị phân ly như giống ngắn ngày lai tạo đa dòng.
Không chỉ mang giá trị sinh học, việc gìn giữ và bảo tồn các giống lúa xưa còn là một hành động tri ân văn hóa – thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn” Bởi khi bỏ đi những giống lúa này, cũng đồng nghĩa với việc đánh mất bao công sức, tâm huyết và trí tuệ của bao thế hệ ông bà đã dày công chọn lọc, lưu giữ. Mỗi giống lúa là một chất liệu văn hóa sống, chứa đựng tình cảm, ký ức và câu chuyện của từng thế hệ chồng chất lên nhau.
Ngoài ra, các giống lúa mùa như lúa Châu Hồng Võ có hàm lượng dinh dưỡng cực kỳ cao. Gạo lúa mùa để lâu năm, gọi là "nhũ mễ" (trên 10 năm), còn có thể được dùng như một loại dược phẩm.
6. Khía cạnh văn hóa lúa mùa giúp con người kết nối và tôn trọng thiên nhiên như thế nào?
Văn hóa lúa mùa (hay văn hóa lúa nước nói chung) không phải bắt nguồn từ “một ngày, một bữa” mà được hình thành qua hàng trăm năm tại Đồng bằng Sông Cửu Long qua quá trình người dân đối diện, khai phá và phản ánh cách ông bà tổ tiên ứng xử với thiên nhiên khắc nghiệt. Từ lúc người ta đặt chân đến vùng đất "mênh mông rừng rậm, rồi rừng rú, thú dữ" và phải khai phá từng gốc cây, từng thửa đất nhỏ để trồng trọt. Người dân phải tính toán cách đối phó khi nước lên, đất sâu, đất cạn, cách thức làm sao để đối phó với cỏ để tồn tại trong điều kiện khó khăn, ĐBSCL không chỉ là "thiên nhiên ưu ái" mà còn là nơi phải đổ "biết bao nhiêu công sức lao động". Để thích ứng với thiên nhiên, con người phải có cách thức canh tác phù hợp hình thành nên nét tính cách tôn trọng thiên nhiên. Và cũng trong bối cảnh của những ngày đầu khai hoang như vậy, những người xa lạ đùm bọc lẫn nhau, cùng nhau khai hoang lập địa vì thế hình thành nên văn hóa ứng xử giữa người với người, đối xử với nhau bằng cái tình, cái nghĩa đó cũng là nét tính cách cởi mở, rộng rãi của người miền Trung.
Chú Tư cũng có nhấn mạnh thêm, văn hóa là tài sản quý giá cần giữ gìn, bởi vì "chỉ có hiểu rõ quá khứ mới dẫn bước trong tương lai". Nếu không hiểu về lịch sử văn hóa của ông bà, không biết ông bà đã sống như thế nào thì dễ "chạy theo xu thế" mà không vững bước trong cuộc đời.
7. Làm thế nào để đảm bảo được sinh kế của người nông dân?
Đảm bảo sinh kế cho người nông dân không chỉ là chuyện của nông dân mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội, trong đó nhà nước có vai trò lo lắng về cục diện chung, các vấn đề tổng thể của hàng triệu hộ nông dân. Nhưng nhà nước không thể lo cho toàn bộ hàng triệu hộ dân, chính vì vậy, từng hộ nông dân, cần có sự nỗ lực trong việc thay đổi sinh kế và cách thức sản xuất.
Bên cạnh đó cũng rất cần sự hỗ trợ lẫn nhau từ các cộng đồng và tổ chức xã hội, "người biết thì nói cho người chưa biết, người biết làm thì hướng dẫn người không biết làm". Nhiều nhóm và tổ chức cũng đang nỗ lực trên hành trình giữ gìn tri thức bản địa, các tổ chức như cộng đồng Vcil, Kulavietnam hay Mekong Organics.
8. Lúa mùa ăn có ngon hơn lúa gạo khác không? Và phản ứng của thị trường?
Cây lúa sử dụng các dưỡng chất từ đất, nước, ánh sáng, không khí để tổng hợp thành hydrat cacbon để nuôi thân lá hạt. Gạo lúa mùa sống thuận tự nhiên trong 6 tháng trời trên đồng. Nó từ từ hấp thu đủ tinh túy đất trời để tạo thành hạt gạo đầy đủ và mang yếu tố thuận tự nhiên nhất.
Đối với các giống lúa ngắn ngày thì tiến trình này sẽ phải được thúc đẩy diễn ra nhanh như “chạy xe siêu tốc”, thường thì chỉ vỏn vẹn trong 100 ngày để thu hoạch. Vì vậy, để có được tiến trình này, người nông dân buộc phải sử dụng những sự thúc đẩy từ bên ngoài như phân bón hóa học. Chia kể nếu chạy theo năng suất, thì số lượng phân bón cũng phải tăng lên. Đáng kinh ngạc trong một vụ lúa ngắn ngày, nếu muốn đạt năng suất cao (8-10 tấn), phải bón 50-60 kg phân và phun 6-8 lần thuốc một vụ.
Gạo lúa mùa trồng theo cách thuần tự nhiên sẽ còn giữ lại nhiều tinh túy của tự nhiên, hạt cơm ngon và chất lượng hơn nhiều.
Các giống lúa mùa như Nàng Thơm Chợ Đào hoặc Tài Nguyên ngày nay dễ bị mất chất lượng nếu người ta cấy lần hai (sau lúa hè thu), người ta tranh thủ vừa xong lúa vụ 1 đã cấy mạ luôn lúa vụ 2 trong khi đó lúa vụ 1 đã lấy gần như toàn bộ chất dinh dưỡng của đất. Vì thế, để chạy theo năng suất (3 tấn/vụ với Nàng Thơm hoặc 5 tấn/vụ với Tài Nguyên), nông dân buộc phải bón nhiều phân vô cơ và sử dụng các loại hóa chất để làm lùn cây, nở bụi để đạt năng suất cao.
Bằng chứng cho thấy gạo lúa mùa chất lượng hơn đó là cấu trúc cám của gạo lứt lúa mùa 6 tháng rất chặt chẽ, có thể để tới 3 tháng không hư, trong khi gạo lứt lúa ngắn ngày sẽ bị mốc và tuột cám rất nhanh. Gạo ngắn ngày sở dĩ thơm mềm xốp dẻo không phải do bản chất của loại lúa đó, mà là kết quả của sự lai đa dòng.
Đến thời điểm hiện tại với chất lượng và giá trị dinh dưỡng của gạo lúa mùa mang lại cho sức khỏe con người, cũng như góp phần giữ gìn tri thức bản địa, đã có rất nhiều người tiêu dùng quan tâm tuy nhiên với chi phí sản xuất và chi phí vận chuyển cao nên vẫn đang kén người mua và cần thêm nhiều hỗ trợ từ cộng đồng.
9. Ở Việt Nam, thì mình còn nơi nào vẫn còn làm lúa mùa hay không và ở các nước khác thì như thế nào ạ?
Vẫn có một số nơi đang trồng lúa mùa, hoặc các giống lúa bản địa tương tự lúa mùa nhưng còn rất ít. Như vùng Cà Mau, Bạc Liêu thì có một số vùng vẫn còn trồng giống lúa “Một bụi đỏ”, An Giang trồng lúa mùa nổi. Ở các nước khác, vẫn có các loại lúa mùa như giống lúa mùa Nếp chín của Thái Lan hay các giống lúa của Lào, chú Tư nhận thấy rằng với các vùng đất cao, các giống lúa mùa của Lào, Tây Bắc Việt Nam hay Thái Lan có sự tương tự nhau (chín sớm hơn lúa mùa của ĐBSCL).
10. Có phải giống lúa mùa nào của chú Tư đều trồng trong 6 tháng không hay trồng trong bao lâu?
Thời gian trồng lúa mùa theo chú Tư sẽ không cố định là 6 tháng cho tất cả các giống. Trong đó, 6 tháng (khoảng 5.5 - 6 tháng) là thời gian lý tưởng để cây lúa đạt được chất lượng tốt nhất. Cây lúa mùa là giống cảm quang ngày ngắn (lúa chín dựa trên tổng lượng nắng hấp thu, cụ thể là “mười ngàn giờ nắng”) nên thời gian sinh trưởng rất linh hoạt và có thể thay đổi tùy thuộc vào thời điểm gieo sạ.
Có thể phân loại các giống lúa mùa thành 3 loại dựa theo thời gian chín: lúa mùa sớm, lúa mùa lỡ, lúa mùa muộn.
Vì cây lúa mùa trổ bông theo cơ chế cảm quan nên tới ngày trổ, ngày chín là nó phải trổ, phải chín, không cần đợi đủ thời gian. Nếu gieo sớm quá, cây lúa phải đợi tới đúng thời điểm ngày ngắn mới trổ, nên thời gian sinh trưởng có thể kéo dài lên tới 7-8 tháng. Còn gieo trễ quá, cây lúa phải chín khi chưa đủ thời gian sinh trưởng (chỉ 4.5 tháng), dù chất lượng không đảm bảo.
Thời gian bình quân lý tưởng để đảm bảo lúa đạt "độ chín sinh lý" và "chín hình thái" là từ 5.5 đến 6 tháng trở lên. Nếu lúa chỉ trồng được 4.5 tháng đã phải gặt (do gieo trễ), thì chất lượng sẽ không đầy đủ và không đủ “phẩm chất”. Đối với chú Tư, chú sẽ trồng cả ba nhóm (sớm, lỡ, muộn) để kéo dài thời gian thu hoạch, giúp du khách có thể tham quan lúa mùa vào nhiều thời điểm khác nhau, kể cả sau Tết (đương lúc vẫn còn lúa mùa muộn).
11. Nếu như sáu tháng mình trồng 1 vụ thì sáu tháng còn lại, mình để dùng để làm gì ạ?
6 tháng mùa khô được dành cho mục đích phi sản xuất để phục hồi đất đai, thực hiện các hoạt động văn hóa, và nghỉ ngơi, nhằm đảm bảo sự bền vững của văn hóa lúa mùa. Mùa khô là lúc "để đất khô để rơm rạ trên đó", cũng là có thêm không gian cho "con nít thả diều đá banh", buổi tối thì có chỗ "ngồi lai rai ngắm trăng lên", cũng như sẽ nghỉ ngơi để không làm mất đi tính chất của lúa mùa và trở thành mô hình "hai ba vụ."
12. Hiện tại bây giờ chú chưa tìm được một người nào để kế thừa kiến thức kinh nghiệm cũng như là công việc của chú, thì chú nghĩ sao nếu đến một thời điểm mà không có người kế thừa hoặc là chú không còn đủ sức khỏe nữa
Chú Tư nhận thức rõ đây là một "bài toán khó" nhưng chú tin rằng vấn đề này không phải là không thể giải quyết, chú thừa nhận bản thân "hơi chủ quan" vì tin rằng mình có thể tiếp tục làm ít nhất là 10 năm nữa.Mặc dù có phần chủ quan về thời gian, chú vẫn rất quan tâm tìm kiếm người phù hợp.
Bên cạnh đó, chú cũng nhìn thấy việc Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) tìm kiếm địa điểm xây dựng "Bảo tàng nông nghiệp sống" ở An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long là một cơ hội lớn.
Nếu địa điểm được chọn là nơi của chú, sẽ cho phép chú "có điều kiện trả lương để chiêu mộ" người làm, vì hiện tại chú không đủ khả năng tài chính để trả lương và giữ chân những người chú quý mến.
Bên cạnh đó, chú cũng có nhiều niềm vui từ sự ủng hộ của cộng đồng: sự ủng hộ từ những người như Thầy Chung Hoàng Chương giúp chú có thêm động lực. Thầy đã hỗ trợ tiền làm tủ đựng các nhạc cụ Khmer sưu tầm được (sau khi bị chuột cắn). Những hành động này là "những cái tấm lòng của người ta là người ta không làm được cái tên không" (tức là không cần danh tiếng), mang lại niềm vui và sự khích lệ, giúp chú thấy rằng "đầu nó bạc chậm lại" và "cũng có niềm vui."
Buổi chia sẻ đã mang lại nhiều suy ngẫm cho người tham gia, dưới đây là một số chia sẻ của người tham dự trong buổi VMT#2 “Dòng chảy văn hóa lúa mùa”
“Vì công việc có liên quan mật thiết, con thấm và thấu hiểu sâu sắc những chia sẻ của chú. Phương pháp canh tác hữu cơ chú đề cập rất giống với những gì con được đọc trong cuốn 'Cách mạng một cọng rơm'. Việc thực hành nông nghiệp sạch đòi hỏi nhiều sức lực, sự bền bỉ cộng với không thể kỳ vọng lợi nhuận ngay từ đầu. Con rất đồng cảm, quý mến công việc chú làm và nhận thấy giá trị to lớn mà nó mang lại. Con chúc chú sức khỏe và sớm tìm được người kế nghiệp để tiếp tục lưu giữ văn hóa Việt Nam. Con cảm ơn.”
“Em đến từ Quảng Bình, rất may mắn và hạnh phúc khi được lắng nghe những chia sẻ sâu sắc của bác. Em rất thích yêu thích việc làm nông nghiệp sinh thái, vì đó là hướng đi khác hẳn với nông nghiệp thông thường. Hạt gạo của bác có thể gọi là 'hạt gạo hạnh phúc' với tiêu chí 'ba sạch'. Hạnh phúc là phải cho nó thuận theo tự nhiên mới là hạnh phúc. Làm nông nghiệp sinh thái là làm nông nghiệp hạnh phúc, khác với làm nông nghiệp hữu cơ. Em tin rằng, sau hai tiếng lắng nghe bác, chắc chắn sẽ có người kế thừa xuất hiện. Em cũng tâm đắc với triết lý 'sản phẩm không cần đạt OCOP' vì chất lượng đã được khẳng định bởi người tiêu dùng. Để tìm kiếm người kế thừa, em đề xuất bác nên mời những người quan tâm dùng thử gạo trong một thời gian dài (ví dụ 360 ngày). Khi họ quen với thực phẩm chất lượng này, họ sẽ tự giác quay lại học tập và trở thành người kế nghiệp. Rất cảm ơn bác và mọi người đã lắng nghe.”
Vcil Members' Talks là chuỗi sự kiện hàng tháng mở cho công chúng, nơi những câu chuyện, sáng kiến và mô hình tái tạo từ hệ sinh thái từ hội viên cộng đồng Vcil được lan tỏa. Vcil Members' Talks không chỉ là nơi để lắng nghe, mà còn là không gian để cùng học hỏi, mở rộng mạng lưới, và nuôi dưỡng tinh thần hợp tác vì một tương lai tái tạo.
Bên cạnh đó, nếu quan tâm đến các sản phẩm của chú Tư mời bạn ghé fanpage Tuluamua.net để biết thêm thông tin chi tiết. Chú Tư là một trong những nhà cung ứng của Vcil Consumers Club (Câu lạc bộ Tiêu dùng Chánh niệm) – một mô hình được khởi xướng bởi Vcil Community (dành cho hội viên) kết nối trực tiếp nhà sản xuất với người tiêu dùng, hướng tới nền kinh tế bền vững và công bằng.
Vcil cũng dự kiến tổ chức chương trình Field Trip (chuyến đi thực địa) trong năm sau dành cho hội viên để đến thăm trực tiếp các nơi sản xuất sạch trong Vcil Consumers Club như muối, gạo, nước mắm, cà phê...
Nếu quan tâm đến các mô hình sản xuất bền vững/ tái tạo, Vcil Community mời mọi người tham gia Thành viên Vcil Community Membership để có cơ hội kết nối với những thành viên có cùng giá trị.
#VcilMemberTalks #VcilCommunity #DongChayVanHoaLuaMua #DuLichHocTapCongDong #TuVietLuaMua #Gaoluamua #KinhTeTaiTao #ChanhNghiep #PhatTrienBenVung #Nongnghiepsinhthai #GiaoDucCongDong #KhoiNghiepBenVung