You are using the member interface.
Log out of the member interface →
← Bản tin

Chuyến Caravan đầu tiên: Hiểu đất nước trong kỷ nguyên vươn mình

Một hành trình nối kết nữa đã kết thúc

Từ ngày 31/08 - 08/09, Vcil Community đã tổ chức chương trình Vcil Caravan 2026: Chuyến hành hương Việt Nam - Vươn mình từ ký ức. Đây là một chuyến đi kéo dài 9 ngày, trải qua 4 tỉnh thành dọc miền Trung - Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Huế và Quảng Trị.

Chuyến đi là cơ hội để chúng tôi có cơ hội tìm hiểu lại lịch sử hào hùng của đất nước, thấu hiểu Việt Nam qua hành trình đấu tranh gian khổ để thống nhất đất nước; qua đó cùng học những bài học của lịch sử, cùng nhau hướng đến tương lai, để cùng hành động, kiến tạo nên một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng. Chuyến đi không chỉ hiểu về lịch sử, mà còn là dịp để chúng tôi quan sát Việt Nam trong thời kỳ mới: kỷ nguyên vươn mình; để hiểu đất nước chúng ta đang đi về đâu, và mỗi người có thể đóng góp gì để giúp Việt Nam ngày càng phát triển, bao hàm, độc lập, tự do và hạnh phúc.

Chuyến đi đã mang đoàn chúng tôi đi gặp gỡ 6 sáng kiến xã hội/cộng đồng, ghé thăm 6 di tích lịch sử, gặp gỡ 2 tổ chức phi chính phủ (NGO), tìm hiểu 1 doanh nghiệp tư nhân, và đối thoại với 1 cơ quan nhà nước.

Chúng tôi cũng xuôi dòng từ quá khứ, từ những ngày kháng chiến chống Pháp cho đến Việt Nam thời hiện đại. Chúng tôi ghé thăm những di tích lịch sử và cả những câu chuyện gắn liền với chúng.

Dẫn dắt trên hành trình đó là những bài ca, bức thư, câu hát và những bộ phim viết về những ngày đất nước trải qua chiến tranh, tái thiết và phát triển, rồi đến thời kỳ vươn mình. Đó là một hành trình đầy những đau thương, mất mát. Có những câu chuyện được kể, biết đến và tưởng nhớ. Nhưng bên dòng lịch sử đó, cũng có những câu chuyện bị quên lãng, hay đang dần mờ nhạt đi trong những câu chuyện chung của đất nước.

Tham gia hành trình là 20 thành viên của cộng đồng Vcil, đến từ cả ba vùng miền của đất nước, trong đó có hai thành viên đến từ Hàn Quốc và Anh. Chính sự đa dạng đó đã giúp chúng tôi có thêm nhiều góc nhìn khác nhau và đa dạng về lịch sử và về Việt Nam.

Chuyến hành hương giúp chúng tôi nhìn thấy lịch sử ở góc nhìn đa chiều hơn, nhân văn hơn, và cũng thấu cảm hơn. Từ góc nhìn của đất nước, về sự chia cắt, từ người trẻ, từ Phật giáo, và từ góc nhìn của những người đang cống hiến sức mình để xây dựng một Việt Nam hùng cường.

Để nhúng mình trong một tiến trình đa chiều, nhiều chiều kích như thế, Vcil Caravan đã tiếp cận lịch sử và Việt Nam qua nhiều phương pháp khác nhau: qua các chuyến điền dã thực địa, xem phim tài liệu và thảo luận, chiêm nghiệm lịch sử, lịch sử truyền miệng, vi lịch sử và lịch sử toàn thể, nghiên cứu ký ức…

Qua chuyến đi, những người trẻ như chúng tôi trở nên dấn thân và thấu hiểu hơn với thời cuộc, với đất nước, với lịch sử và với tương lai. Chúng tôi cũng thực hành cái nhìn của sự thấu cảm để nhìn vào lịch sử, nhìn vào ông bà cha mẹ ta, nhìn vào những người đã và đang ra quyết định cho vận mệnh của một thời đại - ý thức rằng mỗi người đã làm tốt nhất trong khả năng lựa chọn của họ. Hy vọng chúng ta cùng đối thoại trong tinh thần của sự đoàn kết và thấu hiểu.

Một lịch sử chung của đất nước

Trong ngày đầu tiên của chương trình, chúng tôi đã cùng nhau đi qua một lịch sử hiện đại của Việt Nam. Để buổi học không trở nên nhàm chán, chúng tôi đã tiếp cận thông qua diễn kịch, nghiên cứu, thảo luận. Bằng cách chia thành từng nhóm nghiên cứu khác nhau, cùng tìm hiểu và chia sẻ lại cho toàn nhóm, chúng tôi đã thiết lập một hiểu biết nền tảng dựa trên những sự kiện lớn kể từ khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập từ năm 1945.

Những cột mốc chính mà chúng tôi đã đi cùng nhau:

Từ 1945 - 1954: Kháng chiến chống Pháp

Đây là giai đoạn nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập - là tiền đề để Việt Nam trở thành một quốc gia độc lập, toàn vẹn lãnh thổ, đánh đuổi quân xâm lược Pháp.

Trong giai đoạn này, chúng tôi cũng dành thời gian để tìm hiểu tiến trình gìn nước, giữ nước trong những ngày đầu độc lập. Tiêu biểu là:

- Lời kêu gọi toàn dân kháng chiến

- Bình dân học vụ

- Chiến dịch biên giới Thu Đông

- Chiến dịch Điện Biên Phủ

Trong giai đoạn này, một chủ đề mà chúng tôi thảo luận rất nhiều vì tính liên quan và thực tiễn vẫn còn áp dụng đến ngày nay: phong trào Bình dân học vụ - nơi cả nước cùng nhau vượt qua khỏi giặc dốt bằng cách huy động nguồn lực xã hội: người biết chữ dạy người chưa biết chữ; việc học diễn ra bất cứ lúc nào có thể, huy động sự tham gia tự nguyện của toàn dân. Đây là một phong trào toàn dân rất thành công, kéo người dân miền Bắc khỏi “giặc dốt”. Chúng tôi gọi đùa đây là “Việt Nam Quốc gia Học Tập - Việt Nam Learning City” - rất giống với sáng kiến Thành phố Học tập mà chúng tôi khởi xướng.

1954 - 1975: Sự chia cắt rồi lại thống nhất đất nước

Chiến thắng Điện Biên Phủ đã khiến quân Pháp phải ký hiệp định Geneve. Tưởng chừng chúng ta có thể tiến hành tổng tuyển cử 2 năm sau đó, nhưng Ngô Đình Diệm đã không tuân theo Hiệp định Geneve, khiến sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ không được diễn ra. Những tiếp biến sau đó được cho là hệ quả của cuộc chiến ý thức hệ, với nền tảng của lý thuyết Domino. Cùng với đó là những sự kiện lớn ảnh hưởng hàng triệu người dân Việt Nam:

- Phong trào cải cách ruộng đất từ 1953-1956

- Cuộc di dân vào miền nam năm 1954

- Pháp nạn năm 1963 với đỉnh điểm là phong trào đấu tranh bất bạo động và sự kiện hỏa thiêu của Hòa thượng Thích Quảng Đức & sự kiện Tổng thống Ngô Đình Diệm bị ám sát

- Quân Mỹ đổ bộ Việt Nam

- Chiến lược Việt Nam Hóa chiến tranh

- Chiến dịch Mậu Thân 1968

- Mùa hè đỏ lửa 1972

….

Song song với các diễn biến trên là cuộc Hòa đàm diễn ra tại Paris 1973, buộc quân Mỹ phải rút quân, tiền đề để Việt Nam tiến đến thống nhất đất nước năm 1975.

Từ 1975 - 1986: Tái thiết đất nước sau chiến tranh

Sau khi thống nhất, công cuộc tái thiết bắt đầu diễn ra với vô vàn khó khăn. Nhưng người dân Việt Nam vẫn gồng mình để cùng nhau vượt qua. Và bên cạnh đó, cũng có những sự kiện ảnh hưởng đến tận bây giờ đối với người dân miền Nam Việt Nam. Dưới đây là những sự kiện chính quan trọng:

- Kỳ họp thứ nhất (Quốc hội Khóa VI): có những quyết định quan trọng như đổi tên nước thành Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, bầu bộ máy lãnh đạo, chọn quốc kỳ, quốc huy, quốc ca và thủ đô.

- Kinh tế bao cấp: cơ chế kế hoạch hóa tập trung

- Kinh tế mới

- Trại cải tạo

- Thuyền nhân

- Những lần đổi tiền

- Chiến tranh biên giới Tây Nam

- Chiến tranh biên giới phía Bắc

Từ 1986 - nay: Hội nhập và phát triển

Công cuộc Đổi Mới bắt đầu từ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam vào tháng 12 năm 1986, đánh dấu bước ngoặt lịch sử đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội. Điều quan trọng mà chúng tôi học được trong sự kiện này: đó là bất cứ thay đổi nào muốn diễn ra bền vững và dài hạn, cần bắt nguồn từ thay đổi tư duy trước.

Vì vậy cũng trong công cuộc Đổi Mới này, bên cạnh mở cửa kinh tế, phát triển kinh tế thị trường, chính phủ Việt Nam đã thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế trong tư duy và cách làm, và quyết tâm thay đổi. Nhờ sự kiện này, Việt Nam bắt đầu một hành trình hội nhập sâu rộng của mình với bạn bè quốc tế, từng bước giải quyết các vấn đề tồn đọng từ kinh tế đến chính trị và xã hội.

- 1995: bình thường hóa quan hệ với Mỹ, tham gia ASEAN

- 2006 Intel công bố dự án 300 triệu USD xây nhà máy lắp ráp và kiểm định chip tại Khu Công nghệ cao TP.HCM

- 2007: trở thành thành viên chính thức của WTO

Đây là những sự kiện lớn, quan trọng cho thấy sự đổi mới và hội nhập của Việt Nam. Và chính những hiểu biết căn bản này là nền tảng để chúng tôi tiếp tục những hành trình tiếp theo trong chương trình.

Từ lịch sử toàn thể đến vi lịch sử: những câu chuyện không được kể

Sau khi cùng nhau tìm hiểu chiều dài hơn 80 năm kể từ khi nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập, chúng tôi đã hiểu hơn về bối cảnh lịch sử của Việt Nam. Trong dòng lịch sử đó, có những vi lịch sử nào cùng tồn tại, bên cạnh những câu chuyện chính thống?

Chúng tôi tiếp tục tìm hiểu những góc nhìn đa chiều khác thông qua hai bộ phim tài liệu: “Việt Nam và 50 năm quên lãng” và Bộ phim “Bolinao 52”. Mỗi bộ phim khai thác một góc nhìn rất khác nhau qua những giai đoạn khác nhau trong giai đoạn hậu chiến của Việt Nam.

Bộ phim “Việt Nam và 50 năm quên lãng” do chị Mai Huyền Chi đạo diễn và thực hiện, và chị cũng là Hội viên của Vcil Community. Bộ phim là hành trình tìm về cội nguồn và những câu chuyện lịch sử gia đình của một người trẻ - chị Huyền Chi - một người sinh ra trong thời bình và những ký ức về chiến tranh không được hiện diện một cách rõ ràng. Bộ phim kể về hành trình của chị Huyền Chi khi chị bắt đầu theo dõi cuộc đời và cái chết của ông nội mình, một anh hùng chiến tranh đã mất tích trong lịch sử. Những gì bắt đầu như một hành trình cá nhân sớm trở thành một sự suy ngẫm về gánh nặng của ký ức, sự im lặng của những người sống sót và di sản phức tạp của chiến tranh.

Khi đi khắp Việt Nam để thu thập các lời chứng và mảnh ký ức, chị Chi phải đối mặt với những điều chưa được nói ra - trong gia đình mình và trong cấu trúc của một quốc gia vẫn còn bị định hình bởi xung đột. Bộ phim khám phá ý nghĩa của việc thừa hưởng một cuộc chiến mà bạn không trải qua và những gì được ghi nhớ khi quá nhiều thứ đã bị lãng quên.

Về Bolinao 52, bộ phim là câu chuyện có thật về một con thuyền chở 110 người tị nạn bị trôi dạt trên Biển Đông vào tháng 5 năm 1988. Trôi dạt 37 ngày trên biển, bị từ chối cứu hộ bởi Hải quân Hoa Kỳ, nhiều người trên thuyền đã phải ăn thịt người chết để sống sót. Cuối cùng, 52 người sống sót được dân chài người Philippines cứu sống khi con thuyền trôi dạt vào đảo Bolinao, Philippines.

Giữa những năm 1975 và 1995, hơn 1 triệu người Việt Nam phải bỏ nước vượt biên bằng thuyền nhỏ để đến tị nạn các nước lân cận.  Năm 1988, một chiếc tàu rời khỏi Viêt Nam với 110 người. Trôi dạt trên biển trong 37 ngày liên tục. Cuối cùng chỉ còn 52 người sống sót. Cuối cùng, 52 người sống sót được dân chài người Philippines cứu sống khi con thuyền trôi dạt vào đảo Bolinao, Philippines. Tung Trinh là 1 trong 52 người sống sót. Bộ phim Bolinao 52 là bộ phim kể về hồi ức của Tung Trinh về chuyến đi định mệnh cùng những người trên cùng chuyến tàu.

Hai bộ phim đã gợi lên cho chúng tôi nhiều sự suy nghĩ, về cái gì là lịch sử, về những câu chuyện của những cá nhân, gia đình nằm trong một dòng chảy lớn của thời cuộc.

Trong cuộc chiến diễn ra ở Việt Nam, đó không đơn thuần là cuộc xâm lược và cuộc kháng chiến chống Mỹ, mà còn nhiều hơn những bên khác tham gia trong cuộc chiến đó. Qua những bộ phim, chúng tôi còn thấy cả những trại tị nạn, các quốc gia trực tiếp và không liên quan đến cuộc chiến, những gánh nặng hậu thống nhất…

Chiến tranh qua đi, những nỗi đau và mất mát vẫn còn ở lại. Trong bộ phim, những người thân của chị Chi hay nhân vật trong bộ phim đã lựa chọn quên đi những ký ức đã có - đây là cách nhiều người lựa chọn để tiếp tục sống cuộc đời của mình. Nhưng lịch sử không hoàn toàn là những mảng tối. Trong đó cũng tồn tại sự nhân văn của con người. Rất nhiều sự giúp đỡ và hỗ trợ dành cho thuyền nhân Việt Nam trong thời khắc khó khăn. Khi những người trẻ gợi nhắc lại quá khứ cũ, những con người đã qua khổ đau lại lựa chọn sự tha thứ, và không hề giận những người đã gây ra khổ đau cho mình. Trong khi người trẻ vẫn cảm thấy giận dữ vì những gì cha mẹ ông bà mình đã trải qua.

Hai bộ phim cũng đã mở ra cho chúng tôi những cuộc thảo luận rất sâu sắc và đa chiều. Có những người bạn có người thân từng sống và làm việc trong chế độ Việt Nam Cộng Hòa, và họ cũng có những người thân là thuyền nhân. Do đó, ký ức gia đình của họ gắn chặt vào những biến động của lịch sử.

Một bạn chia sẻ rằng bác của mình từng là thuyền nhân vượt biên sang Mỹ. Bác từng làm văn thư hành chính ở Tây Ninh. Sau khi thống nhất, bác bị đưa vào trại cải tạo, để rồi phải vượt biên để tránh khỏi cảnh khổ cực, trong khi mình không làm gì sai. Trong khi đó, ông nội của bạn qua đời vì bị nghi ngờ là giao liên; do đó gia đình bạn rất hận quân giải phóng vì đẩy anh cả khỏi đất nước và giết hại cha mình. Và dì của bạn có người thân làm trong chế độ cũ, nên cũng không được vào Đảng.

Một bạn khác chia sẻ rằng ông nội và em trai của ông tuy sinh ra trong một gia đình, nhưng hai người lại phải chiến đấu ở hai chiến tuyến khác nhau.

Một bạn khác lại chia sẻ rằng dì của mình từng là thuyền nhân vượt biên, từng sống ở các trại tị nạn, rồi bị trục xuất về nước, rồi lại được đi định cư ở Mỹ sau đó - một hành trình dài đằng đẵng kéo dài cả chục năm!

Có thể thấy, có những sự kiện đã diễn ra hơn 50 năm, nhưng ảnh hưởng của chúng lên những gia đình vẫn còn đến tận bây giờ.

Những thực tế và những câu chuyện khác nhau về chiến tranh nhắc nhở chúng tôi không nên quá vội vàng trong việc phán xét những câu chuyện về chiến tranh. Và chúng tôi nhắc nhở nhau cần nhìn nhận qua nhiều góc độ khác nhau. Những gì các bạn học được, biết được là nhờ được sống trong một gia đình liên thế hệ, nơi những câu chuyện được truyền miệng (oral history), những kho tàng về văn hóa, lịch sử vẫn còn được lưu giữ. Nhờ thế, chúng ta mới có thể biết những sự kiện lịch sự trong một không gian đa chiều kích hơn. Điều quan trọng, là chúng ta bớt vô cảm hơn về câu chuyện của gia đình, đất nước.

Chúng tôi muốn nói rằng hãy nhìn lịch sử qua một bức tranh rộng lớn hơn, thay vì thu hẹp lại qua cái nhìn nhị nguyên đúng sai. Lịch sử đa dạng và đa chiều hơn nhiều, vì trong đó là câu chuyện của chính trị, thời cuộc, văn hóa, bối cảnh xã hội, địa lý và từng gia đình khác nhau. Chính những biến số đó khiến lịch sử có những chiều kích khác nhau, và rất đa dạng, có khi mâu thuẫn, đối nghịch nhau khi cùng nói về một sự kiện.

Qua đó, chúng tôi mở ra một góc nhìn lớn hơn, đặt trong bối cảnh của vĩ mô, toàn cầu, thời đại và địa chính trị. Về bản chất, cuộc chiến ở Việt Nam là cuộc chiến của ý thức hệ, và Việt Nam cũng là một con cờ của các cường quốc, chịu sự ảnh hưởng và tác động từ các nước ngoại bang. Và chính những người lãnh đạo của thời đó cũng không có quá nhiều lựa chọn để đưa ra những quyết định vẹn toàn cho những vấn đề họ phải đối mặt.

Hiểu được bức tranh rộng lớn như thế, chúng ta sẽ tránh được chuyện tranh cãi đúng sai, một chiều; thực tập cái nhìn sâu hơn, kẻ thù ta không phải là người, mà là những thứ rất vô hình.

Như nhạc sĩ Phạm Duy đã viết:

“Kẻ thù ta đâu có phải là người
Giết người đi thì ta ở với ai?
Kẻ thù ta tên nó là gian ác
Kẻ thù ta tên nó là vô lương
Tên nó là hờn căm
Tên nó là hận thù
Tên nó là một lũ ma (thế thì)
… Kẻ thù ta đâu có phải là người
Giết người đi thì ta ở với ai?
Kẻ thù ta mang áo màu chủ nghĩa
Kẻ thù ta mang lá bài tự do
Mang cái vỏ thật to
Mang cái rổ danh từ
Mang cái mầm chia rẽ chúng ta…”

Ý thức những điều đó, Vcil Community thường xuyên nhắc nhở nhau: thay vì tạo ra sự chia sẻ, hãy cùng nhau thúc đẩy sự hợp tác, mang mọi người lại với nhau. Cuộc chiến trong quá khứ đã kết thúc, nhưng sự chia rẽ vẫn còn. Là thế hệ tiếp nối, sống trong thời kì hòa bình và độc lập; chúng ta đã học và thấy rõ bài học của sự chia tách về ý thức hệ, sự tách biệt về văn hóa, niềm tin đã đẩy dân tộc mình đi đến đâu.

Chúng tôi mong muốn rằng thay vì tập trung vào sự khác biệt, hãy học cách tôn trọng những khác biệt đó, học cách tôn trọng nhau và cùng chung sống; tránh rơi vào tranh luận đúng sai, nhị nguyên, tách biệt.

Việt Nam là một quốc gia có sự bao hàm, hòa hợp rất sâu sắc. Nó được thể hiện trong ẩm thực, văn hóa và tôn giáo. Là người con Việt Nam, chúng ta cũng cần họ đức tính đó của ông bà ta; không phải vì đó là hồn cốt dân tộc, mà trong bối cảnh khủng hoảng ngày nay, chúng ta cần có nhau. Chúng ta cần sự hợp tác liên ngành, liên thế hệ, liên văn hóa, liên quốc gia và liên vùng, để cùng nhau giải quyết những vấn đề hiện hữu.

Di sản chiến tranh: sau 50 năm sau thống nhất chúng ta phải đối mặt với điều gì?

Nếu như vi lịch sử cho chúng ta thấy những tác động đến những cá nhân và gia đình đi qua chiến tranh về tâm lý và tinh thần; thì những cuộc viếng thăm tại vùng đất Quảng Trị hay trung tâm nạn nhân chất độc màu da cam giúp chúng tôi chứng kiến những tàn dư của chiến tranh đã để lại gì trên mảnh đất hình chữ S này, và những thế hệ con cháu. Tuy nhiên, sự ghé thăm đó không phải để thương cảm, thù hận hay đau buồn; mà đó là cơ hội để chúng tôi chứng kiến những hi vọng, tình người, sự bao dung và nỗ lực không ngừng nghỉ của những con người đang ngày đêm góp sức mình tái thiết và khắc phục hậu quả chiến tranh.

Trung tâm Trưng bày Hoạt động khắc phục hậu quả bom mìn

Từ đây, chúng tôi tiếp tục đến gặp gỡ các sáng kiến xã hội, cơ quan nhà nước, các cộng đồng khác nhau ở miền Trung để tìm hiểu thêm về những nỗ lực của chính phủ và từ các cộng đồng địa phương, họ đã làm gì để phát triển Việt Nam. Đồng thời, cảm nhận và quan sát thực tế hơn những chính sách vĩ mô của Việt Nam tác động đến đời sống của những người dân như thế nào.

Lịch sử qua đó, đã định hình nên Việt Nam ngày hôm nay. Chiến tranh đã qua đi, nhưng di sản của chiến tranh vẫn còn đến tận bây giờ. Cũng chính những bài học lịch sử đó, Việt Nam đã tự chọn cho mình những cách thức phát triển kinh tế, ngoại giao, theo những cách thức rất riêng của mình. Chúng ta không thể hiểu Việt Nam hiện đại nếu không biết được đất nước đã trải qua những gì, đánh đổi điều gì.

🔒 Phần dành riêng cho Hội viên Vcil

Nội dung đầy đủ của bài viết này chỉ dành cho Hội viên Vcil. Đăng nhập để đọc tiếp phần còn lại.

Bài viết cùng chủ đề

Các dự án liên quan bài viết

No items found.